Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09-4-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Tấn Phát;
  2. Ông Nguyễn Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Võ Lê Trúc Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 575/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07-3-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25-3-2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: Số D, hẻm H, đường C, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1973; địa chỉ: Số D, hẻm H, đường C, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24-10-2024, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án của nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đức L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn ngày 31-7-2009 tại UBND phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh L không quan tâm đến gia đình, không tôn trọng vợ. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, không thể sống chung với nhau được nữa nên chị xin ly hôn với anh L.

+ Về con chung: Có 03 cháu tên Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 2006 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được không yêu cầu giải quyết; Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 2009 và Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2013 hiện đang sống với anh chị; chị yêu cầu được nuôi, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Đức L đã được Tòa án tống đạt đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định nhưng vẫn không trình bày ý kiến và không đến Tòa án nên không ghi được ý kiến trình bày. Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T đối với anh Nguyễn Đức L.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 28-3-2009 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 21-6-2013 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; riêng cháu Nguyễn Thanh D, sinh ngày 04-10-2006 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị T chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị T có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Đức L vắng mặt, Tòa án đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục để bảo đảm cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T: Theo chị T khai chị và anh Nguyễn Đức L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn ngày 31-7-2009 tại UBND phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh L không quan tâm đến gia đình, không tôn trọng vợ. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, không thể sống chung với nhau được nữa nên xin ly hôn với anh Nguyễn Đức L. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và giấy triệu tập hòa giải cho anh L nhận theo quy định của pháp luật, nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do, không trình ý kiến, thể hiện cho thấy anh L không có biểu hiện, động thái tích cực nào để cùng nhau giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, thuyết phục chị T hàn gắn đoàn tụ mối quan hệ vợ chồng lại với nhau; chị T kiên quyết xin ly hôn cho rằng anh L và chị đã không còn tình cảm vợ chồng, không thể chung sống với nhau được nữa, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T đối với anh Nguyễn Đức L.

[2] Về con chung: Có 03 cháu tên Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 2006 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được chị T không yêu cầu giải quyết; cháu Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 2009 và cháu Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2013 hiện đang sống với anh L chị T; chị T yêu cầu được nuôi, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Thành Đ có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó căn cứ Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con cho chị T nuôi; anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0003557 ngày 28-10-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T đối với anh Nguyễn Đức L; chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đức L.
  2. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 2006 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được; giao cho chị T nuôi 02 cháu Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 2009 và Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2013; ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
  4. Án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0003557 ngày 28-10-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
  5. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bên được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại UBND xã (phường) nơi cư trú.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án Dân sự./.

Nơi nhận:

  • - PKTNV TA tỉnh;
  • - VKSND TPTN;
  • - THADS TPTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Phan Tuyến

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger