Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08/4/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Mích; Ông Nguyễn Tường Bích

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 662/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 02/TB-TA ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp ELD Ấp Phước Hòaxã Thạnh Phướchuyện Bình Đạitỉnh Bến Tre

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp P, tỉnh Bến Tre.

(Tại phiên tòa sơ thẩm, bà P có mặt; Ông Đ vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 24/12/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn Đ cưới nhau vào năm 2003 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T Bến Tre. Quá trình chung sống giữa bà và ông Đ hạnh phúc đến tháng 5/2024 thì phát sinh mẫu, nguyên nhân là do hai bên không có tiếng nói chung. Bà và ông Đ đã ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay.

Nay bà xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn Đ có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 21/01/2005; Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 05/11/2011. Cháu Nguyễn Thị Tuyết N đã thành niên nên bà không yêu cầu giải quyết; Bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Phương N1, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Bà giữ nguyên lời trình bày như trong quá trình giải quyết vụ án từ trước đến nay về thời gian bà và ông Đ kết hôn, thời gian ly thân, về con chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống kéo dài, ông Đ mỗi lần nhậu say về đều đánh đập bà nên bà không thể sống chung với ông Đ được nữa, quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn, bà cương quyết xin ly hôn với ông Đ.

Về con chung, do cháu Nguyễn Thị Phương N1 có nguyện vọng được sống với ông Đ khi ông bà ly hôn, vì vậy, bà đồng ý theo nguyện vọng của cháu N1, chấp nhận để ông Đ được nuôi cháu N1, bà cho rằng cháu N1 do ông Đ nuôi dưỡng cũng sẽ đủ điều kiện phát triển tốt. Bà tự nguyện cấp dưỡng cho cháu N1 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N1 trưởng thành. Nếu có điều kiện, hàng tháng bà sẽ chu cấp nhiều hơn.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi nghe các bên tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Văn Đ (nơi cư trú tại ấp P, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Văn Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo trình bày của bà Nguyễn Thị P thì bà và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2024 thì phát sinh mẫu, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống kéo dài, ông Đ mỗi lần nhậu say về đều đánh đập bà nên bà không thể sống chung với ông Đ được nữa, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Bà và ông Đ đã ly thân với nhau từ tháng 5/2024 cho đến nay.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông Nguyễn Văn Đ theo đúng quy định của pháp luật để ông Đ biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng ông Đ đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án gửi cho Tòa án. Điều này chứng tỏ ông Nguyễn Văn Đ biết việc bà Nguyễn Thị P xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông nhưng ông không có ý kiến. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ, thấy rằng:

Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2003 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân giữa bà P và ông Đ là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, giữa bà P và ông Đ phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm kéo dài, không tìm được tiếng nói chung, ông bà đã sống ly thân với nhau từ tháng 05/2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, bà P và ông Đ không thể tự hòa giải, không có giải pháp khắc phục mâu thuẫn; ông, bà đã không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn khả năng hàn gắn. Xét thấy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà P xin ly hôn với ông Đ là có cơ sở chấp nhận theo quy định các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[2.4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị P khai bà và ông Nguyễn Văn Đ có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 21/01/2005; Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 05/11/2011.

Bà P trình bày, hiện cháu Nguyễn Thị Tuyết N đã thành niên và có khả năng lao động bình thường, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với cháu Nguyễn Thị Phương N1, theo đơn khởi kiện, bà P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N1, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà P thay đổi yêu cầu, cụ thể, do cháu N1 có nguyện vọng được sống với ông Đ nên bà P đồng ý theo nguyện vọng của cháu N1, chấp nhận để ông Đ được nuôi dưỡng cháu N1. Việc thay đổi yêu cầu này của bà P không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử tiếp tục xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và quyết định giao con cho cha hoặc mẹ nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đồng thời xem xét về nguyện vọng của con (đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên) theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo lời tình bày của bà P thì sau khi bà và ông Đ ly thân, bà về bên nhà của cha mẹ bà để sinh sống, còn cháu N1 ở cùng với ông Đ. Từ thời gian đó cho đến nay, cháu N1 vẫn phát triển theo chiều hướng tốt, việc sinh hoạt, học tập được đảm bảo; ông Đ cũng rất thương yêu, quan tâm cháu N1 và tạo điều kiện để bà và cháu N1 duy trì tình cảm mẹ con; đồng thời, thấy rằng, nguyện vọng của cháu N1 là được sống cùng với ông Đ. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế xáo trộn môi trường sống, giáo dục của cháu N1 và căn cứ vào nguyện vọng của cháu N1, Hội đồng xét xử giao cháu N1 cho ông Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà P đồng ý cấp dưỡng cho cháu N1 mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ ngày 08/4/2025 cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

[2.5] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P khai không có nên không xét đến.

[2.6] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị P khai không có nên không xét đến.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tổng cộng là 600.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng. Bà P còn phải nộp tiếp số tiền là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 228, 244, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các điều 4, 6, 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

Bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn Đ có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 21/01/2005 và Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 05/11/2011.

Cháu Nguyễn Thị Tuyết N đã thành niên và có khả năng lao động bình thường, bà Nguyễn Thị P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Nguyễn Văn Đ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thị Phương N1; điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N1.

Buộc bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Thị Phương N1 với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.000.000 (một triệu) đồng, tính từ ngày 08/4/2025 cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bà Nguyễn Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Ông Nguyễn Văn Đ cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Nguyễn Thị P trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 1 và khoản 2 Điều 86, Điều 116 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và quyết định thay đổi mức cấp dưỡng cho con.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P khai không có nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị P khai không có nên không xét đến.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tổng cộng là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0008092 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Buộc bà Nguyễn Thị P nộp tiếp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng TT, KT&THA);
  • - UBND xã Thạnh Phước;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Nguyễn Thị P với ông Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger