|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ -ST
Ngày: 06-10-2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền và ông Trần Ánh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đông- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 119/2025/TLST-HNGĐ ngày 08/9/2025 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/9/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025 ngày 30/9/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1996; HKTT: Xóm T, xã A, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đỗ Đình T, sinh năm 1994; HKTT: Xóm R, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản trự khai và quá trình cung cấp chứng cứ, nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:
Chị và anh Đỗ Đình T kết hôn với nhau ngày 18/4/2023 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2023 thì phát
sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm lối sống, cách sống hàng ngày dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng anh chị cũng đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau để hàn gắn mâu thuẫn nhưng không hòa hợp được. Từ tháng 10/2024 mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị H nhận thấy chị không thể sống chung cùng anh T nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Đình T.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản trự khai, biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn - anh Đỗ Đình T trình bày: Anh xác nhận thời gian, địa điểm kết hôn nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị H trình bày là đúng. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( nay là xã L, tỉnh Phú Thọ ) ngày 18/4/2023. Do bất đồng quan điểm lối sống hai vợ chồng anh không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh đồng ý.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/9/2025 ông Đỗ Đình V và bà Nguyễn Thị Thu H1 bố mẹ anh T cho biết do bất đồng quan điểm lối sống nên vợ chồng anh T chị H thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/ 2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Gia đình đã khuyên răn mong vợ chồng anh T chị H hòa thuận nhưng chỉ được một thời gian ngắn. Nay chị H có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với anh T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định cảu pháp luật.
* Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên cho rằng Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đúng theo quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đã tống đạt cho các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn thực hiện
đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề nghị HĐXX:
Áp dụng điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147,
khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị H:
- + Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Đỗ Đình T
- + Về con chung: Không có
- + Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị H xin ly hôn anh Đỗ Đình T có HKTT: Xóm R, xã L, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Đặng Thị H và bị đơn anh Đỗ Đình T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đặng Thị H, anh Đỗ Đình T
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Đỗ Đình T kết hôn với nhau ngày 18/4/2023 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình ( nay là UBND xã L, tỉnh Phú Thọ) nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể khắc phục được, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm đến nhau. Đề nghị Tòa án giải cho chị được ly hôn với anh Đỗ Đình T.
Anh Đỗ Đình T xác nhận thời gian, điều kiện kết hôn nguyên nhân mâu thuẫn vợ
chồng như chị H trình bày là đúng. Anh và chị H sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị H, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên anh đồng ý ly hôn với chị Đặng Thị H.
Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận này của chị Đặng Thị H và anh Đỗ Đình T không trái luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên tại phiên hợp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải chị H đi công tác xa, có đơn xin vắng mặt và đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa chị Đăng Thị H2 và anh Đỗ Đình T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên không thể công nhận sự thỏa thuận này của anh chị. Mâu thuẫn giữa chị H2 và anh T đã rất trầm trọng không thể khắc phục được, đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại. Căn cứ điều 51, khoản 1 Điều 53, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Đặng Thị H và anh Đỗ Đình T được ly hôn.
[2.2] Về nuôi con chung: không có. Hiện tại chị H không thai nghén gì.
[2.3] Về tài sản chung: Không có và chị H không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về công nợ chung: Không có và chị H không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết
[2.5] Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016//UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị H:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Đỗ Đình T
- Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001969 ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chu Thị Lan Anh |
Bản án số 24/2025/HNGĐ -ST ngày 06/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh Tr