TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 04/3/2025
Về việc “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN - TP.CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Khánh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Bùi Thanh Hà
- Ông Bùi Quang Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân, thư ký Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2025/TLST – HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hữu P, sinh năm 1998
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1999
Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú: khu vực B, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Hữu P trình bày: ông và bà Phạm Thị Ngọc N tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống ông bà không có con chung. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, mặc dù ông bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không có kết quả. Ông P nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với bà N. Về con chung: ông P xác định không có nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: ông P trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai ngày 11/02/2025 bị đơn bà Phạm Thị Ngọc N trình bày: vào năm 2022 bà và ông P thông qua quen biết nhau và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo luật định. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, trong sinh hoạt hằng ngày gia đình bên chồng có nhiều vấn đề khắt khe, bà cũng cố gắng chịu đựng để duy trì cuộc hôn nhân nhưng không có kết quả, từ đó bà đã bỏ về bên nhà cha mẹ ruột sinh sống và ông bà ly thân khoảng hơn một năm nay. Nay bà cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà đồng ý ly hôn với ông P. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: bà xác định là không có nên không yêu cầu toà án giải quyết. Do hiện tại bà N đang bận đi làm ăn xa nên có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Tại phiên toà hôm nay, ông Trần Hữu P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà N. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ kiện đã được thụ lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, do bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện ông Trần Hữu P yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị Ngọc N. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ông Trần Hữu P và bà Phạm Thị Ngọc N tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên xem đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do có sự bất đồng quan điểm sống dẫn đến việc vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa ông P và bà N đã thực sự rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên ông P yêu cầu được ly hôn với bà N và bà N cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Xét lời trình bày của bị đơn bà Phạm Thị Ngọc N, Tòa án đã nhận được bản tự khai, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của bà N gửi qua đường bưu điện thể hiện bà N cũng thống nhất thuận tình ly hôn với ông P nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về con chung: ông P bà N xác định ông bà không có con chung.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: ông P bà N trình bày là không có nên không yêu cầu toà án giải quyết.
[7] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 51, Điều 53; Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: ông Trần Hữu P và bà Phạm Thị Ngọc N thuận tình ly hôn.
Về con chung: ông P bà N xác định không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: ông P bà N trình bày là không có nên không yêu cầu toà án giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: ông P phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002389 ngày 06/01/2025 thành án phí.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Nguyễn Khánh Xuân |
Bản án số 24/2025/HNGĐ- ST ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: P-N
