Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03/4/2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Cương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Tấn Lợi;
  2. Ông Trần Hữu Tiến.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường -Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 462/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 21/10/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và ông H chung sống với nhau vào năm 1999 nhưng không đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cách đây khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn hòa hợp do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, bà L có nghe người khác nói lại là ông H đã có người phụ nữ khác. Hai bên đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn và vẫn thường xuyên xảy ra cải vã trong một thời gian dài. Ông H đã bỏ nhà đi từ năm 2020 đến nay, khoảng 02 - 03 tháng ông H mới về nhà một lần, từ năm 2023 đến nay thì ông H không còn về nhà nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Ông bà có hai 02 con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh năm 2000 và Nguyễn Anh T, sinh năm 13/3/2007. Con chung tên D đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên T, bà không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong qua trình giải quyết vụ án.
  • Về nội dung vụ án, căn cứ các Điều 9, 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử theo hướng:
    • - Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H.
    • - Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh năm 2000 và Nguyễn Anh T, sinh năm 13/3/2007 đã thành niên bà L không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà L vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà L, ông H.

[2] Về hôn nhân: Bà L trình bày chung sống với ông H vào năm 1999 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn đến nay không hàn gắn được. Ông bà đã không còn sống chung với nhau từ năm 2020 đến nay. Vì thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà L xin ly hôn với ông H, phía ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, ông bà chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Nay do mâu thuẫn với nhau trong một khoảng thời gian dài không điều hòa được. Bà L không còn tình cảm với ông H và cương quyết ly hôn dù đã được động viên, hòa giải đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 9 và 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H.

[3] Về con chung: Con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh năm 2000 đã thành niên, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Con chung tên Nguyễn Anh T, sinh năm 13/3/2007 đến thời điểm Tòa án xét xử cũng đã đủ 18 tuổi nên bà L cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh năm 2000 và Nguyễn Anh T, sinh năm 13/3/2007 đều đã thành niên nên bà Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006773 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - UBND xã;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa bà L với ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger