Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-S

Ngày: 19/12/2025

"V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

Bản án số: /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/12/2025

"V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lam.
  2. Ông Nguyễn Hồng Diện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 05/12/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hà Văn K, sinh năm 1989. Căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/01/2022. Địa chỉ: Thôn M, xã B, tỉnh Tuyên Quang. “vắng mặt”.

Bị đơn: Chị Sú Thị C, sinh năm 1996. Căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/6/2021. Địa chỉ: Đ: Thôn M, xã B, tỉnh Tuyên Quang. “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Hà Văn K trình bày: Anh và chị Sú Thị C được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện B, tỉnh Hà Giang (Nay là xã B, tỉnh Tuyên Quang) vào tháng 11 năm 2015 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn M, xã B, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến cuối năm 2023 vợ chồng anh chị xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung dẫn đến hai vợ chồng thường xẩy ra xô xát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị cũng không cải thiện được mà ngày càng trầm trọng hơn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay. Hiện nay mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, việc ai người đấy làm. Nay anh K nhận thấy cuộc hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Sú Thị C.

Quá trình chung sống anh chị có ba con chung, cháu Hà Thị Thùy T, sinh ngày: 23/11/2015, cháu Sú Mai N, sinh ngày: 13/12/2017 và cháu Hà Như Q, sinh ngày: 28/3/2020. Khi ly hôn anh K có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hà Thị Thùy T, cháu S Mai N và cháu Hà Như Q cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

Về chia tài sản chung, công nợ chung: Anh Hà Văn K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Sú Thị C không gửi bản tự khai, không cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của anh K. Tòa án đã triệu tập bị đơn là chị Sú Thị C nhiều lần để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng chị C vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại các biên bản xác minh ngày 11/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang với bà Mai Thị H là mẹ chồng chị Sú Thị C, với đại diện UBND xã B, đại diện thôn M, xã B nơi anh Hà Văn K và chị Sú Thị C sinh sống phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau:

Anh Hà Văn K và chị Sú Thị C được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện B, tỉnh Hà Giang (Nay là xã B, tỉnh Tuyên Quang) vào tháng 11 năm 2015 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn M, xã B, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến cuối năm 2023 vợ chồng anh chị xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung dẫn đến hai vợ chồng thường xẩy ra xô sát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị cũng không cải thiện được mà ngày càng trầm trọng hơn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay. Hiện nay mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, việc ai người đấy làm. Nay anh Hà Văn K khởi kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con với chị Sú Thị C, chúng tôi đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình chung sống anh chị có ba con chung, cháu Hà Thị Thùy T, sinh ngày: 23/11/2015, cháu Sú Mai N, sinh ngày: 13/12/2017 và cháu Hà Như Q, sinh ngày: 28/3/2020. Trong thời gian anh chị sống ly thân thì anh K là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Thị Thùy T, cháu Sú Mai N, cháu Hà Như Q và anh K vẫn đảm bảo các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu tốt. Môi trường sống và giáo dục các cháu hiện nay ổn định. Chị C đi làm ăn ở tỉnh khác nên không có điều kiện, khả năng trông nom, chăm sóc, giáo dục các cháu hàng ngày. Anh chị đều là lao động tự do, không rõ mức thu nhập. Về chia tài sản chung và công nợ, do anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chúng tôi không cung cấp thông tin.

Tại phiên toà hôm nay, anh Hà Văn K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn K, xử cho anh Hà Văn K được ly hôn chị Sú Thị C. Việc nuôi con, đề nghị xử giao cháu Hà Thị Thùy T, sinh ngày: 23/11/2015, cháu Sú Mai N, sinh ngày: 13/12/2017 và cháu Hà Như Q, sinh ngày: 28/3/2020 cho anh Hà Văn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị Sú Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền:

Nguyên đơn là anh Hà Văn K có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bị đơn là chị Sú Thị C, chị Sú Thị C có nơi cư trú tại thôn M, xã B, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Sú Thị C vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Văn K và chị Sú Thị C xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có thời gian chung sống với nhau hạnh phúc. Đến cuối năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên anh chị thường xảy ra xô xát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng quan hệ hôn nhân của anh chị vẫn không được cải thiện. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay, việc ai người đấy làm, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng chị Sú Thị C không hợp tác để tham gia hòa giải. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Hà Văn K được ly hôn chị Sú Thị C.

[2.2] Về việc nuôi con:

Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình chung sống, anh chị có ba con chung là cháu Hà Thị Thùy T, sinh ngày: 23/11/2015, cháu Sú Mai N, sinh ngày: 13/12/2017 và cháu Hà Như Q, sinh ngày: 28/3/2020. Khi ly hôn, anh K có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hà Thị Thùy T, cháu Sú Mai N, và cháu Hà Như Q cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và anh không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. HĐXX xét thấy, hiện nay chị C đi làm ăn xa nhà, không có điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục các con hàng ngày, vả lại chị C không thể hiện nguyện vọng nuôi con khi anh K có yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, về việc nuôi con chung. HĐXX xét nguyện vọng nuôi con của anh K xuất phát từ tình cảm, vì lợi ích của các con, trong thời gian anh chị sống ly thân anh K là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, cháu N, cháu Q; anh K vẫn đảm bảo các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các cháu tốt, hiện nay các cháu đang được sinh sống, học tập trong môi trường ổn định, bên cạnh đó các cháu T, cháu N đều có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn các cháu được sống cùng với bố nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao các cháu T, N, Q cho anh K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu T, N, Q đủ 18 tuổi, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn là có cơ sở.

[2.3] Về chia tài sản chung, công nợ chung:

Anh Hà Văn K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí:

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc Hội; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hà Văn K được ly hôn chị Sú Thị C.
  2. Về việc nuôi con: Xử giao cháu Hà Thị Thùy T, sinh ngày: 23/11/2015, cháu Sú Mai N, sinh ngày: 13/12/2017 và cháu Hà Như Q, sinh ngày: 28/3/2020 cho anh Hà Văn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu T, cháu N, cháu Q đủ 18 tuổi, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản chở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con chung, sau này anh, chị có quyền thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con và người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Anh Hà Văn K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0000592, ngày 03/10/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lam

Đinh Thị Hồng

Nguyễn Hồng Diện

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND khu vực 5-Tuyên Quang;
  • - THADS tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBND xã Bắc Quang, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-S ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-S
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa anh hà Văn k và chị Sú thị C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger