Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 26 – 5 – 2025

Về việc “Ly hôn, tranh chấp

nuôi con, tài sản chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Văn Ngọt
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hữu Lương
Bà Lê Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2025/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản chung”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1553/2025/QĐ-PT ngày 08/4/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số B ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
  • - Bị đơn: Anh Phạm Công N1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
  • - Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số B ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Mẹ ruột chị N). (Có mặt)
  • - Người kháng cáo: Bị đơn anh Phạm Công N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo bản án sơ thẩm

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 7 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 05 tháng 11 năm 2024, đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 11 tháng 12 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Trần Thị Kim N trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Công N1 kết hôn vào ngày 03 tháng 03 năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến cuối năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Từ cuối năm 2017 cho đến nay, chị và anh Phạm Công N1 sống ly thân không hàn gắn tình cảm được. Nay, chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Công N1.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh N1 có 01 con chung tên Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017. Hiện nay, cháu Phạm Ngọc H1 đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017. Chị yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con chung từ ngày 01/10/2017 đến khi con chung tròn 18 tuổi, mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa ngày 20/12/2024, chị N thay đổi yêu cầu về thời gian cấp dưỡng, chị yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con từ ngày xét xử sơ thẩm vụ án cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Đối với yêu cầu phản tố của anh N1, chị không đồng ý yêu cầu chia đôi tài sản chung của anh N1. Vào thời điểm chị và anh N1 tổ chức đám cưới, mẹ chồng chị có cho vợ chồng chị số vàng là 19 chỉ vàng 24k. Sau khi cưới về, chị và anh N1 có bán 02 chỉ vàng 24K để mua dê nuôi. Nên số vàng cưới còn lại sau khi mua dê về nuôi là 17 chỉ vàng 24K. Hiện nay, chị không còn giữ số vàng này, do khi sinh con vào năm 2017 đến nay, chị phải một mình nuôi con, anh N1 không hỗ trợ kinh tế cho chị nuôi con vì vậy chị đã bán số vàng cưới còn lại là 17 chỉ vàng 24K để nuôi con trong 07 năm qua.

- Về nợ chung: Không có.

* Tại Tờ trình bày ý kiến đề ngày 17/10/2024, bản tự khai của đương sự đề ngày 22/10/2024 và đơn yêu cầu phản tố đề ngày 07/11/2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Phạm Công N1 trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Kim N cưới nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T). Sau khi cưới, anh và chị N sống hạnh phúc, giữa anh và chị N không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Tuy nhiên, đến cuối năm 2017, chị N tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và sinh con đến nay. Anh và chị đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay. Từ năm 2017 cho đến nay, anh có tới lui thăm vợ con được khoảng ba bốn lần, anh có yêu cầu anh và chị N hàn gắn tình cảm, anh có gọi điện thoại và đến nhà mẹ vợ nhưng chị N trốn tránh không gặp anh, không muốn về sống cùng anh. Nay đối với yêu cầu ly hôn của chị N, anh không đồng ý vì anh còn thương vợ, thương con, anh mong muốn vợ chồng hàn gắn để cùng chăm lo cho con trưởng thành.

- Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị N có 01 con chung tên Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017. Hiện nay, cháu Phạm Ngọc H1 đang sống chung với chị N. Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017 và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, đối với yêu cầu nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung của chị N thì anh không đồng ý. Hiện anh đang làm nghề thợ mộc, thu nhập ổn định khoảng 500.000 đồng/ngày nên anh nhận thấy có đủ khả năng nuôi con, chăm lo con ăn học đến khi ra trường. Trong quá trình chị N sinh con, nuôi con anh có đến thăm và hỗ trợ số tiền cho chị N nuôi con khoảng 3.000.000 đồng – 4.000.000 đồng. Vì chị N cứ tìm cách né tránh không muốn hàn gắn với anh nên vì sĩ diện anh không thường xuyên đến thăm vợ, con.

- Về tài sản chung: Khi anh và chị N tổ chức đám cưới, cha mẹ anh có cho anh và chị N số vàng cưới là 19 chỉ vàng 24K (gồm: 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24K, 01 sợi dây lật 10 chỉ vàng 24K, 01 sợi lắc lật 05 chỉ vàng 24K, 01 chiếc kiềng tay 03 chỉ vàng 24K) để có vốn làm ăn. Nay chị N xin ly hôn với anh nên anh có yêu cầu chia đôi số vàng cưới là 19 chỉ vàng 24K. Anh yêu cầu nhận giá trị của ½ số tài sản trên giá trị tạm tính với số tiền là 83.000.000 đồng. Hiện nay, số vàng trên do chị N đang giữ. Tại phiên tòa ngày 20/12/2024 và ngày 11/02/2025, anh thừa nhận sau khi cưới về, anh và chị N có thống nhất bán 02 chỉ vàng 24K là vàng cưới để mua dê về nuôi, dê hiện đã bán không còn nữa. Do đó, số vàng cưới là tài sản chung của anh và N còn lại là 17 chỉ vàng 24K. Trong số vàng cưới có đôi bông 01 chỉ vàng 24K, anh không đồng ý để chị N được quản lý, sử dụng. Anh yêu cầu chia đôi số vàng cưới còn lại mà chị N đang giữ là 17 chỉ vàng 24K. Anh yêu cầu nhận giá trị của ½ số tài sản trên với số tiền là 74.375.000 đồng.

- Về nợ chung: Không có.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Kim N ly hôn với anh Phạm Công N1. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 034 ngày 03/03/2017 của Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Quá trình sống chung, chị Trần Thị Kim N và anh Phạm Công N1 có 01 con chung, cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017. Giao con chung cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017 cho chị Trần Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng (Phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 theo biên bản lấy ý kiến ngày 22/10/2024).

Anh Phạm Công N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017 mỗi tháng 1.930.000đ (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) cho đến khi cháu H1 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung của anh N1 bắt đầu tính từ ngày 11/02/2025.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Anh Phạm Công N1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Chị Trần Thị Kim N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Phạm Công N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn anh Phạm Công N1 về yêu cầu chia đôi số tài sản chung là số vàng cưới 17 (Mười bảy) chỉ vàng 24K với giá trị yêu cầu được nhận là 74.375.000đ (Bảy mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Kim N và anh Phạm Công N1 khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/02/2025, bị đơn anh Phạm Công N1 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

  • Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Trần Thị Kim N.
  • Về con chung: Anh có nguyện vọng được nuôi con chung là Phạm Ngọc H1, sinh ngày 10/10/2017 (hiện đang sống với chị N). Anh không yêu cầu chị Trần Thị Kim N cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung: Anh yêu cầu chia đôi số vàng 19 chỉ vàng 24K mà cha mẹ anh cho vợ chồng anh. Tổng trị giá vàng theo thời điểm hiện tại là 166.250.000 đồng. Anh yêu cầu được hưởng giá trị là 83.125.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn anh Phạm Công N1 thay đổi một phần kháng cáo, yêu cầu chia tài sản chung là 17 chỉ vàng 24k giá trị là 74.375.000 đồng; Giữ nguyên kháng cáo về hôn nhân và con chung. Nguyên đơn chị Trần Thị Kim N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý kháng cáo của anh N1. Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Phạm công N1; Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét kháng cáo của bị đơn anh Phạm Công N1 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Hội đồng xét xử nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Công N1 kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

[1] Xét kháng cáo của anh Phạm Công N1, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim N và anh Phạm Công N1 kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 03/3/2017, phù hợp quy định của pháp luật, đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2017 phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân theo chị N trình bày là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, anh N1 thì cho rằng giữa anh và chị N không có mâu thuẫn. Tuy nhiên, chị N và anh N1 đều thừa nhận đã ly thân nhau từ cuối năm 2017 cho đến nay, chứng tỏ hai bên có phát sinh mâu thuẫn nên mới sống ly thân. Từ khi ly thân đến nay hai bên không có thiện chí, biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh N1 cho rằng còn tình cảm vợ chồng với chị N nên không đồng ý ly hôn, tuy nhiên từ khi chị N về nhà cha mẹ ruột sinh con và sinh sống đến nay, anh N1 chỉ đến thăm được khoảng ba, bốn lần. Đồng thời, từ khi chị N nộp đơn ly hôn đến nay, chị N và anh N1 nhiều lần gặp mặt, nói chuyện cùng nhau nhưng chị N và anh N1 không có cùng quan điểm, đôi bên không còn tin tưởng nhau, chị N không chấp nhận hàn gắn cùng anh N1, anh N1 cũng không thuyết phục được chị N rút lại yêu cầu ly hôn. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh N1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, từ đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N với anh N1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh N1 kháng cáo không đồng ý ly hôn với chị N, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm anh N1 không có biện pháp nào để hàn gắn đoàn tụ vợ chồng với chị N. Mặt khác, anh N1 kháng cáo không đồng ý ly hôn, nhưng anh lại kháng cáo yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu chia tài sản chung, chứng tỏ anh cũng không còn tình cảm vợ chồng với chị N. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H là mẹ ruột của chị N cho rằng giữa anh N1 và chị N có mâu thuẫn. Do đó kháng cáo của anh N1 về việc không đồng ý ly hôn là không có cơ sở để chấp nhận.

[2] Về con chung: Chị Trần Thị Kim N và anh Phạm Công N1 khai thống nhất có 01 con chung là Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017. Quá trình giải quyết vụ án, chị N và anh N1 đều có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Anh N1 không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N có yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Ngọc H1 với mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Xét thấy, hiện nay cháu Phạm Ngọc H1 đang sống chung với chị Trần Thị Kim N, cháu đang có cuộc sống học tập, sinh hoạt ổn định và tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 22/10/2024, cháu Phạm Ngọc H1 có nguyện vọng được sống với chị Trần Thị Kim N. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung của anh Phạm Công N1, giao con chung Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017 cho chị Trần Thị Kim N nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, phù hợp với nguyện vọng của cháu Phạm Ngọc H1. Do anh Phạm Công N1 là người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị N yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật với mức cấp dưỡng là 1.930.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/02/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi là phù hợp.

[3] Về tài sản chung:

[3.1] Tại đơn phản tố đề ngày 07/11/2024, anh Phạm Công N1 yêu cầu chia tài sản chung giữa anh và chị Trần Thị Kim N là số vàng cưới 19 chỉ vàng 24K (gồm: 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24K, 01 sợi dây lật 10 chỉ vàng 24K, 01 sợi lắc lật 05 chỉ vàng 24K, 01 chiếc kiềng tay 03 chỉ vàng 24K). Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20/12/2024 và ngày 11/02/2025, anh N1 thừa nhận sau khi cưới, anh và chị N có thống nhất bán 02 chỉ vàng 24K là vàng cưới để mua dê về nuôi, dê hiện đã bán không còn nữa. Do đó, số vàng cưới là tài sản chung của anh và N còn lại là 17 chỉ vàng 24K. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh N1 thay đổi kháng cáo chỉ yêu cầu chia đôi số vàng là 17 chỉ vàng 24k, yêu cầu nhận giá trị số tiền là 74.375.000 đồng.

[3.2] Chị N trình bày vào thời điểm chị và anh N1 tổ chức đám cưới, mẹ chồng chị có cho vợ chồng chị số vàng là 19 chỉ vàng 24k. Sau khi cưới, chị và anh N1 có bán 02 chỉ vàng 24K để mua dê nuôi. Nên số vàng cưới còn lại sau khi mua dê về nuôi là 17 chỉ vàng 24K. Hiện nay, chị không còn giữ số vàng này, do khi sinh con vào năm 2017 đến nay, chị phải một mình nuôi con, anh N1 không hỗ trợ kinh tế cho chị nuôi con, vì vậy chị đã bán số vàng cưới còn lại là 17 chỉ vàng 24K để nuôi con trong 07 năm qua.

[3.3] Hội đồng xét xử thấy rằng, anh N1 và chị N thống nhất số vàng cưới còn lại 17 chỉ vàng 24K là tài sản chung. Tuy nhiên, hiện số vàng trên đã không còn do trong quá trình sinh con từ năm 2017 đến nay, chị N đã bán số vàng trên để sử dụng vào việc nuôi dưỡng con chung cháu Phạm Ngọc H1. Theo xác nhận của địa phương nơi chị N và cháu H1 sinh sống đã xác định mức thu nhập bình quân đầu người tại địa phương là 6.000.000 đồng/tháng. Xét thấy, với mức thu nhập trên không đảm bảo các khoản chi phí hợp lý trong cuộc sống của chị N cùng cháu H1. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, anh N1 cũng thừa nhận trong quá trình chị N sinh con, nuôi con anh chỉ đến thăm được ba, bốn lần và chu cấp số tiền khoảng ba đến bốn triệu đồng cho việc nuôi con. Vì vậy, việc chị N đã bán số vàng 17 chỉ vàng 24K để dùng vào việc nuôi con là chi phí hợp lý. Hiện số tài sản chung không còn nên anh N1 yêu cầu chia đôi số vàng cưới còn lại mà chị N đang giữ là 17 chỉ vàng 24K. Anh yêu cầu nhận giá trị của ½ số tài sản trên với số tiền là 74.375.000 đồng là không có cơ sở, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của anh N1 là có căn cứ. Do đó, anh N1 kháng cáo yêu cầu chia đôi số vàng 17 chỉ vàng 24K là không có cơ sở để chấp nhận.

[4] Từ những nhận định nêu trên, xét thấy anh N1 kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Phạm Công N1; Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn anh Phạm Công N1 không được chấp nhận, nên anh N1 phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Phạm Công N1;

Giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Kim N ly hôn với anh Phạm Công N1. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 034 ngày 03/03/2017 của Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Quá trình sống chung, chị Trần Thị Kim N và anh Phạm Công N1 có 01 con chung, cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017. Giao con chung cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017 cho chị Trần Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng (Phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 theo biên bản lấy ý kiến ngày 22/10/2024).

Anh Phạm Công N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 01/10/2017 mỗi tháng 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) cho đến khi cháu H1 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung của anh N1 bắt đầu tính từ ngày 11/02/2025.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Anh Phạm Công N1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Chị Trần Thị Kim N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Phạm Công N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn anh Phạm Công N1 về yêu cầu chia đôi số tài sản chung là số vàng cưới 17 (Mười bảy) chỉ vàng 24K với giá trị yêu cầu được nhận là 74.375.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Kim N và anh Phạm Công N1 khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

5.1. Chị Trần Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002496 ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Chị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5.2. Anh Phạm Công N1 phải chịu số tiền án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.080.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007055 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Hoàn trả lại cho anh N1 số tiền tạm ứng án phí là 1.780.000 đồng (Một triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng) theo biên lai nêu trên.

6. Về án phí phúc thẩm: Anh Phạm Công N1 phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh N1 đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009074 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Anh N1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Ngọt

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Lương

Lê Thị Thu Hương

Phạm Văn Ngọt

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản chung

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger