Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 20/6/2025

V/v Tranh chấp ly hôn,

nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hường

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thị Út mẫn

Bà Đặng Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/TLPT-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2025/QĐXXPT-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng G, sinh năm 1992

Địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang

Bị đơn: Ông Tô Hùng T, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Địa chỉ hiện nay: I T, phường D, Tp P, Kiên Giang.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Tô Hùng T.

( Bà G, ông T có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng G trình bày: Bà G và ông T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn. Bà G và ông T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang ngày 28/8/2019. Thời gian đầu sau khi cưới nhau vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng năm 2021, vợ chồng xảy ra nhiều bất đồng quan điểm. Từ năm 2023 mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng không thể giải quyết được và sống ly thân từ 2023 đến nay. Hiện bà không còn tình cảm vợ chồng với ông T, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống, có 02 người con chung là Tô Anh M, sinh ngày 29/5/2023, giới tính nam và Tô Trung S, sinh ngày 17/9/2019, giới tính nam. Từ lúc ly thân đến nay bà G là người trực tiếp nuôi 02 con, ông T không thường xuyên đến thăm con, chỉ thời gian gần đây khi ông T biết bà G gửi đơn ly hôn lên Tòa án thì ông T mới qua thăm con. Hiện tại bà G đang kinh doanh tại nhà, thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng là 10.000.000 đồng đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con. Do đó, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng M và S đến tuổi trưởng thành. Theo đơn kiện bà G yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 05 triệu đồng. Tại phiên toà, bà G không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Tô Hùng T trình bày: Về quan hệ hôn nhân và con chung thống nhất theo trình bày của bà G. Thời gian sống ly thân không như bà G trình bày. Ông T thường xuyên thăm nom 02 con và gửi tiền cho bà G nuôi 02 con. Lý do ông bà cãi nhau vì khó khăn trong kinh tế. Ông T đã xin bà G cho ông thời gian 06 tháng để ông ổn định kinh tế gia đình nhưng bà G không đồng ý. Nay bà G nhất quyết yêu cầu ly hôn thì ông T đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông T và bà G có 02 người con chung là Tô Anh M, sinh ngày 29/5/2023 và Tô Trung S, sinh ngày 17/9/2019. Thu nhập trung bình mỗi tháng của ông T là 50.000.000 đồng, ông T đủ điều kiện để nuôi dưỡng con nên ông T yêu cầu nuôi dưỡng cháu S đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T đồng ý giao cháu M cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông T không cấp dưỡng nuôi cháu M.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà G, giao 02 con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành thì ông T không cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 04/2025/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng G được ly hôn với ông Tô Hùng T.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Tô Anh M, sinh ngày 29/5/2023 và Tô Trung S, sinh ngày 17/9/2019 cho bà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, ông T không cấp dưỡng nuôi con.

Ông T có quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích chung của các con, ông T và bà G có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 15/01/2025 bị đơn ông Tô Hùng T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, giao con chung là Tô Trung S, sinh ngày 17/9/2019 cho ông được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng G trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của ông T. Do bà muốn giữ ổn định môi trường sống cho bé Trung S cùng bé Anh M, đến khi bé Trung S đủ 07 tuổi thì xem xét theo nguyện vọng của bé về người trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện tại bé Trung S được bà G trực tiếp nuôi dưỡng cùng bé Anh M có cuộc sống tốt và bà luôn tạo điều kiện cho ông T chăm sóc, thăm nom các con. Bà G đảm bảo các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt cho các con Tô Anh M và Tô Trung S đến tuổi trưởng thành.

- Bị đơn ông Tô Hùng T trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Lý do ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Trung S, sinh ngày 17/9/2019 là thời gian qua bà G bận nhiều việc có khi cháu bị té ngã thương tích; Điều kiện kinh tế thu nhập của bà G không đảm bảo nuôi dưỡng tốt cho hai con. Nếu ông trực tiếp nuôi dạy cháu Trung S thì ông T sẽ thuê người cùng giúp ông chăm sóc tốt nhất cho B, ông đảm bảo cuộc sống và phát triển tốt nhất cho bé về mọi mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm, chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ về điều kiện, giữ môi trường sống ổn định của trẻ. Đồng thời trong thời gian bà G trực tiếp nuôi dưỡng bé Trung S và Anh M thì bà

G luôn tạo điều kiện cho ông T chăm sóc, thăm nom hai con chung. Do vậy Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T giữ y bản án sơ thẩm về người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm về tuyên Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn đối với bà G khi hoàn trả tạm ứng án phí, do bà G rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên phần này của Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

[2] Về nuôi con chung sau ly hôn: Xét kháng cáo của bị đơn ông Tô Hùng T yêu cầu được nuôi trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Trung S, sinh ngày 17/9/2019, giới tính nam. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã phân tích điều kiện thực tế của mỗi bên, giải thích quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng con sau ly hôn của các bên theo quy định Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nhưng bà G và ông T không thỏa thuận được.

Xét thấy, bà G và ông T có đủ các điều kiện kinh tế và thời gian, nơi ở, trực tiếp chăm sóc cháu Tô Trung S. Tại phiên tòa ông T xác nhận cháu Trung S cùng cháu Anh M do bà G trực tiếp nuôi dưỡng từ năm 2021 đến nay, hiện tại các cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình về xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chung là cháu Tô Trung S, cần giữ ổn định môi trường sinh sống cho cháu S. Hội đồng xét xử thống nhất theo quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của ông Tô Hùng T, giữ y bản án sơ thẩm về người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà G rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn nhưng quyết định bản án sơ thẩm không tuyên đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà G mà chỉ tuyên hoàn trả án phí là chưa đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về án phí: án phí sơ thẩm giữ nguyên như bản án sơ thẩm.

Án phí phúc thẩm: ông T phải chịu 300.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu của cơ quan Thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 244, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27, khoản 6 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Tô Hùng T.

- Sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng G về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn do bà G rút yêu cầu.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng G được ly hôn với ông Tô Hùng T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Tô Anh M, sinh ngày 29/5/2023 giới tính nam và Tô Trung S, sinh ngày 17/9/2019 giới tính nam, cho bà Nguyễn Hồng G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Ông Tô Hùng T không cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn do bà G không yêu cầu.

Ông T có quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích chung của các con chung, ông T và bà G có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

Về tài sản chung: Bà G ông T tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về nợ chung: Ông T và bà G xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

3. Án phí. Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ tạm ứng án phí bà G đã nộp 600.000 đồng, bà G được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006641 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Án phí phúc thẩm: Ông Tô Hùng T phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí ông thanh đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012501 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND thành phố Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Quốc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Kim Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng G ly hôn Tô Hùng T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger