Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HC-ST

Ngày: 19-02-2025

V/v khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh

vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tố Linh, ông Hoàng Tương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2024/TLST-HC ngày 26 tháng 11 năm 2024, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HC ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Võ Minh T, sinh năm 1991.
Địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ liên hệ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B.
Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi nhánh Văn phòng Đ.
    Địa chỉ: C T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  2. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
    Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuan.
  3. Bà Đào Thị Minh T1, sinh năm 1958. Địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên hệ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Võ Minh T trình bày:

Ngày 07/11/2024, ông và bà Đào Thị Minh T1 (là mẹ ông) đã ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng được Văn phòng C chứng thực cùng ngày 07/11/2024. Theo đó, bà T1 tặng cho ông quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 131, tờ bản đồ số 9 toạ lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, diện tích 102,6m², mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn. Đất đã được Sở T2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 309334, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05082 vào ngày 15/11/2017 cho bà Hồ Thị Lan A, sau đó ngày 15/5/2018 Chi nhánh văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên cho ông Cao Cẩm L, ngày 18/9/2018 Chi nhánh văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên cho bà Đào Thị Minh T1.

Ngày 07/11/2024, ông nộp hồ sơ đăng ký nhận chuyển quyền sử dụng đất theo Biên nhận số 983/BPTNTKQ ngày 07/11/2024 tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân thành phố P.

Ngày 08/11/2024 ông nhận được Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông. Theo nội dung thông báo, Chi nhánh cho rằng thửa đất mà ông đăng ký nhận tặng cho được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 320/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B. Do đó, sau khi có ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông được biết và cùng phối hợp thực hiện. Theo thông báo nêu trên thì hồ sơ của ông chưa được giải quyết và cũng không biết đến khi nào thì được giải quyết, điều này xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Tại nội dung Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ cũng nêu rõ thửa đất ông được nhận tặng cho đã được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 04/02/2016. Như vậy, từ khi được phép chuyển mục đích đến nay, thửa đất này đã được sang tên đổi chủ qua nhiều người sau đó mới đến mẹ ông là bà T1 và nay đến ông. Ông nhận chuyển nhượng, tặng cho hoàn toàn hợp pháp, có đầy đủ giấy tờ theo quy định pháp luật và cũng hoàn toàn không có lỗi gì trong việc này. Vì vậy, ông làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận:

  • Hủy Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông.
  • Buộc Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao theo quy định pháp luật.

Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số 4315/VPĐKĐĐ-HCTH ngày 16/12/2024:

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh T, Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp ý kiến tại Công văn số 11181 ngày 12/12/2024 và toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Tòa án. Văn phòng Đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Công văn số 11181 ngày 12/12/2024 và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 11181/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 12/12/2024:

Ngày 07/11/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận tặng cho quyền sử dụng đất của ông Võ Minh T tại biên nhận số 983/BPTNTKQ.

Ông Võ Minh T nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Đào Thị Minh T1 đối với thửa đất số 131, tờ bản đồ số 9, diện tích 102,6 m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 309334 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp ngày 15/11/2017, cập nhật biến động ngày 18/9/2018 chuyển nhượng cho bà Đào Thị Minh T1.

Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận số CI 309334 có lịch sử biến động như sau:

Ngày 30/8/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp Giấy chứng nhận số CĐ 258863 đối với thửa đất số 53, tờ bản đồ số 9, diện tích 1868 m² đất ở tại nông thôn cho bà Hồ Thị Lan A do UBND thành phố P ban hành Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 về việc cho phép bà Hồ Thị Lan A được chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 1868 m² sang Đất ở tại nông thôn.

Bà Hồ Thị Lan A thực hiện tách thửa đất số 53, tờ bản đồ số 9 thành 03 (ba) thửa đất gồm: thửa đất số 1327, tờ bản đồ số 9, diện tích 1142,1 m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp Giấy chứng nhận số CG 302629 ngày 15/9/2017; thửa đất số 1328, tờ bản đồ số 9, diện tích 381,0 m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp Giấy chứng nhận số CG 302630 ngày 15/9/2017 và thửa đất số 1329, tờ bản đồ số 9, diện tích 330,7 m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp Giấy chứng nhận số CG 302631 ngày 15/9/2017.

Bà Hồ Thị Lan A thực hiện đồng thời hợp thửa các thửa đất số 1327, 1328, 1329 cùng thuộc tờ bản đồ số 9 và tách thửa thành các thửa đất, trong đó có thửa đất số 131, tờ bản đồ số 9, diện tích 102,6 m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp Giấy chứng nhận số CI 309334 ngày 15/11/2017, cập nhật biến động ngày 18/9/2018 chuyển nhượng cho bà Đào Thị Minh T1.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 131, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 309334 có nguồn gốc do bà Hồ Thị Lan A được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B ban hành Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T2 tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T2."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 08/11/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Minh T. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Võ Minh T được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

2. Ủy ban nhân dân thành phố P không có ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện.

3. Bà Đào Thị Minh T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh T.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh T, hủy Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, ông Võ Minh T, bà Đào Thị Minh T1, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ và UBND thành phố P vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về quyền khởi kiện: Ngày 07/11/2024, bà Đào Thị Minh T1 là mẹ của ông Võ Minh T thống nhất ký hợp đồng tặng cho ông Võ Minh T toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 131, tờ bản đồ số 9, diện tích 102,6m2, đất ở tại nông thôn theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 309334 cấp ngày 15/11/2017. Hợp đồng tặng cho được công chứng tại Văn phòng C theo số công chứng ngày 07/11/2024. Sau đó, ông T đã nộp hồ sơ nộp hồ sơ đăng ký nhận chuyển quyền sử dụng đất theo Biên nhận số 983/BPTNTKQ ngày 07/11/2024 tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân thành phố P.

Tuy nhiên, ngày 08/11/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông T. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông Võ Minh T đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên ông có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024. Đến ngày 12/11/2024, ông Võ Minh T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] khoản 1 Điều 45 Luật đất đai năm 2024 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

  1. Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;
  2. Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;
  3. Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;
  4. Trong thời hạn sử dụng đất;
  5. Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.”

[4.2] Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Đào Thị Minh T1 và ông Võ Minh T phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất được tặng cho có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Việc đăng ký biến động sang tên người được tặng cho quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.

[4.3] Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P không phù hợp với quy hoạch của Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của ông Võ Minh T. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P chưa bị hủy bỏ, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh T như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ông Võ Minh T được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
  • - Khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024;
  • - Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh T.
    • - Hủy Thông báo số 1754/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
    • - Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Minh T theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
    • - Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thâm.
    • - Ông Võ Minh T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông Võ Minh T 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000466 ngày 15/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B.Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh B.Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HC-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 24/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Võ Minh Thịnh khởi kiện VPĐK tỉnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger