Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HC-ST

Ngày: 14-3-2025

“V/v khiếu kiện quyết định hành

chính trong lĩnh vực quản lý đất

đai"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Mộng Thu
  2. Bà Lê Phan Ngọc Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2024/TLST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HC ngày 26 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 01/01/1955. Địa chỉ: Số H, ấp D, xã Q, huyện T, tỉnh Long An. (có mặt)

- Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Tấn T – Phó Chủ tịch UBND huyện (có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đặng Minh T1 - Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Huỳnh Trọng H, năm sinh: 1980. Địa chỉ: Ấp D, xã Q, huyện T, tỉnh Long An. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim C trình bày như sau:

Vào năm 1993, ông Võ Văn Q, chồng bà Nguyễn Thị Kim C mua thửa đất 153 của bà Nguyễn Thị Năng. Năm 1994, ông Q, bà C bán lại cho vợ chồng ông Huỳnh Văn Q1 và bà Nguyễn Thị V một nửa thửa đất. Đến năm 1997, ông Huỳnh Văn Q1 làm thủ tục đứng tên toàn bộ thửa đất. Năm 1998, ông Huỳnh Văn Q1 làm thủ tục sang tên cho ông Võ Văn Q một nửa thửa đất. Đến năm 2000 ông Võ Văn Q được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển nhượng từ ông Q theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 995575, vào số cấp giấy chứng nhận CH 02575 ngày 25/11/2010 đối với thửa đất 118, tờ bản đồ số 8. Năm 2020, ông Võ Văn Q chết nên thửa đất được cập nhật chỉnh lý biến động tại trang ba do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T cấp ngày 10/8/2020, để thừa kế cho bà Nguyễn Thị Kim C.

Tuy nhiên, trên thực tế, từ khi mua đất của bà N, ông Võ Văn Q và bà C đã sử dụng phần đất giáp lộ, tức là thửa đất 101, tờ bản đồ số 8. Ông Huỳnh Văn Q1 là người sử dụng thửa đất 118, tờ bản đồ số 8 nhưng lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 101, tờ bản đồ số 8. Sau khi ông Huỳnh Văn Q1 chết, chuyển thừa kế cho bà Nguyễn Thị V. Đến năm 2010, bà V tặng cho thửa đất được cấp cho ông Huỳnh Trọng H. Từ khi được tặng cho, ông H tiếp tục sử dụng thửa đất 118, tờ bản đồ số 8.

Khoảng cuối năm 2023, bà C đo đất cho con thì phát hiện đất bà C hiện đang sử dụng do ông H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất ông H sử dụng do bà C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà C đã yêu cầu UBND huyện điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà nhưng UBND huyện không điều chỉnh nên bà đi khởi kiện yêu cầu:

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 948635, vào số cấp giấy chứng nhận CH 01635 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/11/2010 cấp cho ông Huỳnh Trọng H đứng tên thửa đất 101, tờ bản đồ số 8.

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 995575, vào số cấp giấy chứng nhận CH 02575 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/11/2010 cấp cho ông Võ Văn Q đứng tên thửa đất 118, tờ bản đồ số 8. Hủy cập nhật chỉnh lý biến động tại trang ba do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T cấp ngày 10/8/2020, để thừa kế cho bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1955, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: ấp D, xã Q, huyện T, tỉnh Long An, theo hồ sơ số 006575.TK.001.

Người bị kiện trình bày như sau:

Ngày 04/7/1997, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K605807, số vào sổ 927QSDĐ/0909-LA đối với thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 3.674m², mục đích sử dụng đất trồng lúa, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An cho ông Huỳnh Văn Q1. Năm 1998, ông Huỳnh Văn Q1 chuyển nhượng quyền quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn Q đối với thửa đất số 1651 (tách một phần từ thửa đất số 204), tờ bản đồ số 1, diện tích 1.837 m² (theo Giấy phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 320/GP.UB ngày 21/8/1998). Diện tích còn lại thửa đất số 204 là 1.837 m². Ngày 09/4/2008, thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1 được điều chỉnh diện tích từ 1.837 m² thành 1.765 m² do làm đường giao thông (theo đơn xin điều chỉnh ngày 09/4/2008 và được Phòng Tài nguyên và Môi trường chỉnh lý trên T2 bổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/4/2008). Ngày 21/5/2008, bà Nguyễn Thị V được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 764616, số vào sổ cấp giấy H 01252 đối với thửa đất số 204, tờ bản đồ số 01, diện tích 1.765 m², mục đích sử dụng là đất trồng lúa do bà Nguyễn Thị V nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Huỳnh Văn Q1 (theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản được Phòng C1 tỉnh Long An công chứng số 323, quyển số 6 TP/CC-SCC/TK ngày 21/9/2007). Ngày 23/12/2008, bà Nguyễn Thị V tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Trọng H đối với thửa đất số 204, tờ bản đồ số 01, diện tích 1.765 m² (theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được UBND xã Q chứng thực số 89, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 01/12/2008). Đến năm 2009, ông Huỳnh Trọng H kê khai đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được cấp đổi thành thửa 101, tờ bản đồ số 8, diện tích 2.099,4 m², mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 948635, số vào sổ cấp giấy CH 01635, được UBND huyện T cấp ngày 10/11/2010). Từ những cơ sở trên, qua kiểm tra hồ sơ địa chính và rà soát các quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 101, tờ bản đồ số 8 vào năm 2010 cho ông Huỳnh Trọng H là cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đo đạc thành lập bản đồ địa chính mới, trình tự thủ tục giải quyết đảm bảo đúng theo quy định pháp luật về đất đai.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Huỳnh Trọng H thống nhất với lời trình bày của bà C, hiện nay ông H đang đứng tên thửa đất số 101, tờ bản đồ số 8, phần đất này bà C đang sử dụng và ông H sử dụng phần đất thửa số 108, tờ bản đồ số 8, phần đất bà C đứng tên. Tuy nhiên ông H không đồng ý hủy giấy vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H đã được cấp từ lâu, không ai có ý kiến gì. UBND huyện T cũng xác định thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng. Nay bà C yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của ông H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:

Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của luật tố tụng. Phía người bị kiện xin vắng nên không đối thoại được. Việc thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ đảm bảo. Tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Về thời hiệu: Bà Nguyễn Thị Kim C phát hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng vị trí sử dụng vào cuối năm 2023, đến năm 2024 bà C khởi kiện nên còn thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung vụ án: Lời trình bày của các đương sự, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, trích lục bản đồ địa chính đều thể hiện bà Nguyễn Thị Kim C và ông Huỳnh Trọng H không sử dụng đúng phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các bên sử dụng đất ổn định, lâu dài, nguồn gốc đất rõ ràng, không tranh chấp ranh đất. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T đúng trình tự thủ tục nhưng sai vị trí thửa đất. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện để người sử dụng đất đăng ký cấp lại quyền sử dụng đất cho đúng hiện trạng sử dụng trên thực tế theo quy định tại

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về đối tượng khởi kiện, phạm vi giải quyết, thẩm quyền xét xử: Bà Nguyễn Thị Kim C yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 995575, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02575 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/11/2010 cấp cho ông Võ Văn Q đứng tên thửa đất 118, tờ bản đồ số 8. Hủy cập nhật chỉnh lý biến động tại trang ba do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T cấp ngày 10/8/2020, để thừa kế cho bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1955, CMND số : [...], địa chỉ thường trú: ấp D, xã Q, huyện T, tỉnh Long An, theo hồ sơ số 006575.TK.001.

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 948635, vào số cấp giấy chứng nhận CH 01635 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/11/2010 cấp cho ông Huỳnh Trọng H đứng tên thửa đất 101, tờ bản đồ số 8. Đây là yêu cầu “hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”. Căn cứ Điều 30 và Khoản 3, 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Tòa án căn cứ Điều 8 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thụ lý giải quyết theo tố tụng hành chính giải quyết theo yêu cầu của đương sự.

[2] Về thời hiệu: Vào khoảng cuối năm 2023 khi bà C cắt đất tặng cho con thì phát hiện UBND huyện T cấp nhầm thửa đất giữa bà và ông H, ngày 15/7/2024, bà C khởi kiện. Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính, yêu cầu khởi kiện của bà C còn thời hiệu khởi kiện.

[3] Về tư cách tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim C khởi kiện Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An nên xác định bà Nguyễn Thị Kim C là người khởi kiện; Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An là người bị kiện. Yêu cầu khởi kiện của bà C liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Trọng H nên xác định ông H là người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

[4] Việc công khai chứng cứ, đối thoại và xét xử vắng mặt đương sự.

Tòa án tiến hành công khai chứng cứ; lập biên bản đối thoại theo quy định tại các Điều 135, Điều 138 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[5] Việc xét xử vắng mặt đương sự.

Người đại diện cho người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện có văn bản xin vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện.

[6] Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Nguồn gốc đất của bà C và ông H đều từ nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Năng. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Võ Văn Q, chồng bà C và ông Huỳnh Văn Q1, cha của ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy nguồn gốc đất rõ ràng. Thực tế xem xét thẩm định tại chỗ, kết hợp với xem xét trích lục bản đồ địa chính thể hiện: Hiện ông H đang sử dụng thửa đất 118, tờ bản đồ số 8, bà C sử dụng thửa 101, tờ bản đồ số 8. Như vậy, có cơ sở xác định, UBND huyện T đã cấp sai vị trí hai thửa đất nói trên. Yêu cầu của bà C là có căn cứ chấp nhận.

[7] Chi phí xem xét thẩm định: Bà Nguyễn Thị Kim C tự nguyện nộp 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp xong.

[8] Về án phí Hành chính sơ thẩm: Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án, bà C không phải chịu phải chịu tiền án phí, khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp. UBND huyện T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32 Luật tố tụng Hành chính 2015;

Áp dụng Khoản 1, Khoản 2 Điều 193, Điều 358 và Điều 348 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Áp dụng điểm đ, Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C đối với Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An về việc “Hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”:

    1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 995575, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02575 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/11/2010 cấp cho ông Võ Văn Q đứng tên thửa đất 118, tờ bản đồ số 8. Huỷ cập nhật chỉnh lý biến động tại trang ba do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T cấp ngày 10/8/2020, để thừa kế cho bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1955, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: ấp D, xã Q, huyện T, tỉnh Long An, theo hồ sơ số 006575.TK.001.

      Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 948635, vào số cấp giấy chứng nhận CH 01635 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/11/2010 cấp cho ông Huỳnh Trọng H đứng tên thửa đất 101, tờ bản đồ số 8.

    2. Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị Kim C.

  2. Về chi phí thẩm định: 3.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim C tự nguyện chịu, đã nộp xong.

  3. Về án phí hành chính sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị Kim C không phải chịu án phí. Buộc Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An phải nộp 300.000₫.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - UBND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Hoàng Thị Thúy Lành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HC-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 24/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim C - UB huyện T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger