Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/DS-ST

Ngày 26 - 6 - 2025

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng

    Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Nguyễn Thị Nghị

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Phương Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàn - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Dương đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số: 111/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V1; địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý. Người được ủy quyền lại: Ông Đào Tuấn V và bà Vi Thị T - Chuyên viên xử lý nợ (cùng vắng mặt).
  2. Tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty cổ phần M, địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T1 - Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T2 - Trưởng phòng xử lý nợ Miền B. Người được ủy quyền lại: Ông Đặng Hồng L1 - Trưởng bộ phận xử lý nợ và ông Nguyễn Tiến T3, bà Lê Thu T4 - Chuyên viên xử lý nợ (bà T4 có mặt, ông L1 và ông T3 vắng mặt).
  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Sơn A, sinh năm 1996 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: TDP L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (cùng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1 (Ngân hàng), ông Đào Tuấn V trình bày:

Ngân hàng TMCP V1 (Ngân hàng) và anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 10076001 ngày 25/11/2023 với nội dung cụ thể như sau: Ngân hàng TMCP V1 cho anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H vay số tiền 5.022.000.000đồng, mục đích vay vốn để bổ sung vốn kinh doanh buôn bán phế liệu; Thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và được áp dụng trong 01 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn 01 tháng. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/1 lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức: Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng với khoản vay có tài sản có TSBĐ dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V2.com.vncó hiệu lực tại thời điểm điểu chỉnh (+) biên độ 5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dung tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi.

Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, ngày 27/11/2023, Ngân hàng TMCP V1 đã giải ngân cho anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H theo Giấy đề nghị giải ngân và khế ước nhận nợ ngày 27/11/2023 đối với số tiền nhận nợ là 5.022.000.000đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, anh A, chị H đã thế chấp các tài sản sau: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, thửa đất có diện tích 615,6m², thửa đất đã được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh V cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2022 đứng tên anh Nguyễn Sơn A. Việc thế chấp có Hợp đồng thế chấp số LN2212087725952 ngày 10/12/2022, hợp đồng thế chấp được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, lãi đối với Hợp đồng tín dụng đã ký. Vì vậy, Ngân hàng TMCP V1 đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 12/9/2024 anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H còn nợ Ngân hàng 5.365.376.090đồng, trong đó: Nợ gốc là 5.022.000.000đồng, nợ lãi là 336.049.865đồng, lãi chậm thanh toán là 7.326.225đồng.

Do anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 08/10/2024 Ngân hàng đã tiến hành khởi kiện anh A và chị H đến Tòa án

nhân dân huyện Tam Dương để đề nghị Tòa án buộc anh A, chị H trả nợ cho Ngân hàng.

Ngày 25/12/2024, Ngân hàng TMCP V1 đã tiến hành bán 90% khoản nợ của anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H cho Công ty cổ phần M theo Hợp đồng mua bán nợ số 18/2024/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm ký giữa Ngân hàng TMCP V1 với Công ty cổ phần M. Theo đó, Ngân hàng TMCP V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M đồng ý mua 90% khoản nợ của khách hàng vay là anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H bao gồm 90% khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H đã ký kết với Ngân hàng TMCP V1.

Đồng thời, Ngân hàng TMCP V1 chuyển giao quyền chủ nợ, Công ty M kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V1 đối với 90% khoản nợ đã mua và quyền đối với 90% tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật.

Tính đến hết ngày 26/6/2025 (ngày xét xử vụ án), anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H còn nợ Công ty M và Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền là 6.023.872.400đồng (trong đó nợ gốc là 5.022.000.000đồng, nợ lãi trong hạn là 73.653.850đồng, lãi quá hạn là 922.967.881đồng, lãi chậm thanh toán là 5.250.669đồng). Dư nợ gốc 5.022.000.000đồng nêu trên là dư nợ của hợp đồng tín dụng số 10076001 ngày 25/11/2023. Lãi suất áp dụng tại thời điểm hiện tại đối với khoản nợ gốc là 16,65%/năm.

Trong đó anh A, chị H nợ CTCP Mars 90% khoản tiền trên tương ứng 5.421.485.160đồng (trong nợ gốc là 4.519.800.000đồng, nợ lãi trong hạn là 66.288.465đồng, lãi quá hạn là 830.671.093đồng, lãi chậm thanh toán là 4.725.602đồng) và nợ Ngân hàng 10% khoản tiền trên tương ứng 602.387.240đồng (trong đó nợ gốc là 502.200.000đồng, nợ lãi trong hạn là 7.365.385đồng, lãi quá hạn là 92.296.788đồng và lãi chậm thanh toán là 525.067đồng).

Nay Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi chậm thanh toán tính đến hết ngày 26/6/2025 là 602.387.240đồng (trong đó nợ gốc là 502.200.000đồng, nợ lãi trong hạn là 7.365.385đồng, lãi quá hạn là 92.296.788đồng và lãi chậm thanh toán là 525.067đồng).

Đề nghị buộc anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H phải chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ cho đến ngày anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H thực tế thanh toán

hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V1. Nếu anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H không thực hiện thanh toán toàn bộ số tiền nêu trên, thì Ngân hàng TMCP V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, thửa đất có diện tích 615,6m², thửa đất đã được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh V cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2022 đứng tên anh Nguyễn Sơn A. Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì số tiền thu được từ việc phát mại được trả cho Ngân hàng M theo tỉ lệ Ngân hàng 10%, M 90% và anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ hết số nợ cho Công ty cổ phần M và Ngân hàng TMCP V1 theo tỷ lệ Mars 90%, Ngân hàng TMCP V1 10%.

Về chi phí tố tụng: Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người đại diện theo ủy quyền của tổ chức kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V1: Công ty cổ phần M (M), bà Lê Thu T4 trình bày:

Về việc Ngân hàng TMCP V1 bán 90% khoản nợ của anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H cho Công ty cổ phần M, đồng thời chuyển giao quyền chủ nợ, quyền khởi kiện đối với anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H như đại diện Ngân hàng TMCP V1 trình bày. Sau khi mua lại khoản nợ, M bằng nhiều hình thức như làm việc trực tiếp, thông báo bằng văn bản tới gia đình anh A, chị H để thông báo về việc M đã mua lại 90% khoản nợ của anh A, chị Hiền từ Ngân hàng.

Quá trình anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H thực hiện hợp đồng tín dụng, anh chị đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, tiền lãi nên khoản nợ còn lại của anh A, chị H đã bị chuyển nợ quá hạn với mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/5/2024. Tạm tính đến ngày 31/3/2025, anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H còn nợ Công ty M và Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền là 5.823.448.166đồng (trong đó nợ gốc là 5.022.000.000đồng, nợ lãi trong hạn là 73.653.850đồng, lãi quá hạn là 723.663.276đồng, lãi chậm thanh toán là 4.131.041đồng). Dư nợ gốc 5.022.000.000đồng nêu trên là dư nợ của hợp đồng tín dụng số 10076001 ngày 25/11/2023. Lãi suất áp dụng tại thời điểm hiện tại đối với khoản nợ gốc là 16,65%/năm.

Trong đó anh A, chị H nợ CTCP Mars 90% khoản tiền trên tương ứng 5.241.103.350đồng (trong nợ gốc là 4.519.800.000đồng, nợ lãi trong hạn là 66.288.465đồng, lãi quá hạn là 651.296.948đồng, lãi chậm thanh toán là 3.717.937đồng)) và nợ Ngân hàng 10% khoản tiền trên tương ứng 582.344.817đồng (trong đó nợ gốc là 502.200.000đồng, nợ lãi trong hạn là

7.365.385đồng, lãi quá hạn là 72.366.328đồng và lãi chậm thanh toán là 413.104đồng)

Do Ngân hàng đã thực hiện việc khởi kiện anh A, chị H trước khi bán nợ cho CTCP Mars nên CTCP Mars là tổ chức kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng trong vụ án này.

Nay CTCP Mars yêu cầu Tòa án buộc anh A, chị H trả cho M số tiền còn nợ tính đến hết ngày 26/6/2025 (ngày xét xử vụ án) là 5.421.485.160đồng (trong nợ gốc là 4.519.800.000đồng, nợ lãi trong hạn là 66.288.465đồng, lãi quá hạn là 830.671.093đồng, lãi chậm thanh toán là 4.725.602đồng), tương ứng với 90% tổng dư nợ của anh A, chị H tại Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M

Đề nghị buộc anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H phải chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ cho đến ngày anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H thực tế thanh toán hết khoản nợ cho M. Nếu anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H không thực hiện thanh toán toàn bộ số tiền nêu trên, thì M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho M, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, thửa đất có diện tích 615,6m², thửa đất đã được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh V cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2022 đứng tên anh Nguyễn Sơn A. Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì số tiền thu được từ việc phát mại được trả cho Ngân hàng M theo tỉ lệ Ngân hàng 10%, M 90% và anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ hết số nợ cho Công ty cổ phần M và Ngân hàng TMCP V1 theo tỷ lệ CTCP Mars 90%, Ngân hàng TMCP V1 10%.

Về chi phí tố tụng: Công ty cổ phần M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Sơn A trình bày: Ngày 25/11/2023 vợ chồng anh (Nguyễn Sơn A, Nguyễn Thị H) và Ngân hàng TMCP V1 đã ký kết hợp đồng tín dụng số 10076001 ngày 25/11/2023 với nội dung: Vợ chồng anh vay của Ngân hàng TMCP V1 số tiền 5.022.000.000đồng, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay, mục đích vay để kinh doanh phế liệu (anh không có đăng ký kinh doanh), lãi suất tại thời điểm giải ngân là 5%/năm, áp dụng lãi suất thả nổi. Ngày 27/11/2023 Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng anh số tiền 5.022.000.000đồng. Đến nay vợ chồng anh chưa trả tiền gốc cho Ngân hàng, tiền lãi đã trả được khoảng 6 tháng, cụ thể số tiền lãi đã trả là bao nhiêu anh không nhớ. Tài sản thế chấp cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, tài sản thế chấp là của riêng anh. Tính đến ngày 12/9/2024 vợ chồng anh còn nợ Ngân hàng toàn bộ tiền gốc và khoảng 340.000.000đồng tiền lãi theo số liệu Ngân hàng thông báo là đúng.

Thời gian gần đây, do làm ăn không thuận lợi, nên việc trả gốc, trả lãi cho Ngân hàng không được đúng hạn. Thời gian tới anh sẽ thu xếp tiền hoặc tự xử lý tài sản thế chấp để tất toán khoản nợ tại Ngân hàng. Anh đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian để anh tự thu xếp trả nợ, đồng thời anh đề nghị Ngân hàng miễn giảm một phần tiền lãi cho vợ chồng anh.

Đối với vợ anh là chị Nguyễn Thị H, do bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc được, quan điểm của chị H cũng như quan điểm của anh.

Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về việc tống đạt các văn bản tố tụng đối với chị Nguyễn Thị H nhưng chị H không đến Tòa án làm việc, không có lời khai để đưa ra quan điểm giải quyết vụ án.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích thực tế tại thời điểm xem xét, thẩm định là 615,6m². Trên đất có các tài sản gồm: 01 nhà hai tầng xây năm 2021, kết câu bê tông cốt thép, tường gạch, nền lát gạch men, sơn nước, tầng 2 đã tháo dỡ mái và bức tường phía sau cửa chính; 01 nhà cấp 4 xây năm 2022, tường gạch mái ngói, nền đổ bê tông, xây ở vị trí giáp đường tỉnh lộ 305C; 01 bếp xây năm 2018 có kết cấu bê tông cốt thép kiên cố, tường gạch, mái đổ bê tông liền kết cấu với nhà hai tầng; 01 sân bê tông phía sau nhà hai tầng; 01 sân lạt gạch đỏ 40 x 40cm phía trước nhà hai tầng; 01 tường bao loan xây tường gạch năm 2018, trát xi cát, sơn nước cao khoảng 2m, xây tại chiều phía Đông của thửa đất; 01 tường bao loan xây gạch đỏ năm 2018, không trát, cao khoảng 1,5m, xây ở chiều phía Tây và chiều phía Nam của thửa đất; 02 trụ cổng làm năm 2018 cao khoảng 2,5m vuông 50 x 50cm, xây gạch trát xi cát, sơn nước và 02 cánh cổng sắt; 01 cây vú sữa đường kính gốc khoảng 15cm và một số cây tạp còn nhỏ không có giá trị.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng 2024, các Điều 274, 275, 280, 295, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 321, 323, 365, 368, 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M.

Buộc anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền tính đến hết ngày 26/6/2025 là 602.387.240đồng (trong đó nợ gốc là

502.200.000đồng, nợ lãi trong hạn là 7.365.385đồng, lãi quá hạn là 92.296.788đồng và lãi chậm thanh toán là 525.067đồng) và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/6/2025) với mức lãi suất là 16,65%/năm đối với số tiền nợ gốc còn lại cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Ngân hàng.

Buộc anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H trả cho Công ty cổ phần M tổng số tiền tính đến hết ngày 26/6/2025 là 5.421.485.160đồng (trong nợ gốc là 4.519.800.000đồng, nợ lãi trong hạn là 66.288.465đồng, lãi quá hạn là 830.671.093đồng, lãi chậm thanh toán là 4.725.602đồng)) và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/6/2025) với mức lãi suất là 16,65%/năm đối với số tiền nợ gốc còn lại cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Công ty cổ phần M.

Khi Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng và Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, thửa đất có diện tích 615,6m², thửa đất đã được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh V cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2022 đứng tên anh Nguyễn Sơn A.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì số tiền thu được từ việc phát mại được trả cho Ngân hàng M theo tỉ lệ Ngân hàng 10%, M 90% và anh guyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ hết số nợ cho Công ty cổ phần M và Ngân hàng TMCP V1 theo tỷ lệ CTCP Mars 90%, Ngân hàng TMCP V1 10%.

Về án phí: Anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Về chi phí tố tụng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V1 khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết giữa các bên, trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Mục đích của việc vay vốn để bổ sung vốn kinh doanh phế liệu và các bên đều có mục đích lợi nhuận, tuy nhiên anh A và chị H không có đăng ký kinh doanh nên xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ tại huyện T nên vụ án

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Đào Tuấn V vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H đều đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H trả toàn bộ khoản nợ còn lại theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Ngày 12/3/2025 Công ty cổ phần M xuất trình Hợp đồng mua bán nợ số 18/2024/VPB-MARS ngày 25/12/2024 và Phụ lục đính kèm ký giữa Ngân hàng TMCP V1 với Công ty cổ phần M. Theo đó, Ngân hàng TMCP V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M đồng ý mua 90% khoản nợ của khách hàng vay là anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H bao gồm khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H đã ký kết với Ngân hàng TMCP V1. Đồng thời, Ngân hàng TMCP V1 chuyển giao quyền chủ nợ, Công ty M kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V1 đối với khoản nợ đã mua và quyền đối với tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Sau đó, M đã đưa ra yêu cầu, đề nghị Tòa án buộc anh A, chị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nếu anh A, chị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi 90% khoản nợ của anh A, chị H mà M đã mua của Ngân hàng. Xét thấy, việc chuyển giao một phần khoản nợ kèm theo quyền chủ nợ, quyền khởi kiện giữa Ngân hàng và M là phù hợp với quy định tại Điều 365, 368 Bộ luật dân sự và khoản 4 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự, cho nên Tòa án chấp nhận bổ sung Công ty cổ phần M tham gia tố tụng với tư cách Tổ chức kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, đồng thời chấp nhận xem xét và giải quyết về nội dung yêu cầu của Công ty cổ phần M trong vụ án này.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về việc Ngân hàng và M yêu cầu anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết: Giữa Ngân hàng TMCP V1 và anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H đã ký kết hợp đồng cho vay số 10076001 ngày 25/11/2023 với hạn mức cho vay là 5.022.000.000đồng. Về hình

thức, hợp đồng được lập thành văn bản, các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện. Các nội dung gồm thời gian ký kết hợp đồng, mục đích vay, thời hạn cho vay, phương thức cho vay, số tiền vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, tài sản đảm bảo của khoản vay phản ánh đúng như người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn là anh Nguyễn Sơn A đã trình bày trong quá trình chuẩn bị xét xử, các nội dung trên không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại Điều 117, Điều 119, Điều 385, Điều 398, Điều 401 của Bộ luật dân sự năm 2015. Như vậy hợp đồng cho vay nêu trên được các bên giao kết hợp pháp và có hiệu lực. Theo hợp đồng đã ký thì các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình như các điều khoản đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay về việc giải ngân khoản vay theo Khế ước nhận nợ ngày 27/11/2023. Về phía bị đơn, đến nay bị đơn đã trả được một phần tiền lãi cho Ngân hàng, tuy nhiên bên vay đã vi phạm điều khoản trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ về nghĩa vụ trả tiền lãi kể từ ngày 15/5/2024 và tiếp tục vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc vào ngày 27/11/2024, cụ thể bên vay đã vi phạm khoản 8 Điều 1 của Hợp đồng cho vay và khoản 6 Điều 1 của Khế ước nhận nợ. Việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi do lỗi hoàn toàn thuộc về bên vay. Do có sự vi phạm nghĩa vụ của bên vay, nên Ngân hàng có quyền khởi kiện để thu hồi nợ.

Trong quá trình khởi kiện, Ngân hàng đã chuyển giao 90% khoản nợ của anh A, chị H (90% nợ gốc, và 90% nợ lãi phát sinh từ nợ gốc) cho M, đồng thời chuyển giao quyền chủ nợ, quyền khởi kiện đối với anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H, quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo tỉ lệ mua bán nợ giữa M và Ngân hàng theo Hợp đồng mua bán nợ số 18/2024/VPB-MARS ngày 25/12/2024 và Phụ lục đính kèm ký giữa Ngân hàng TMCP V1 với Công ty cổ phần M. Thỏa thuận mua bán nợ và chuyển giao quyền chủ nợ, quyền khởi kiện giữa Ngân hàng và M là phù hợp với quy định tại Điều 365, 368 Bộ luật dân sự và khoản 4 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì vậy, căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng cho vay giữa Ngân hàng và anh A, chị H; Khế ước nhận nợ ngày 27/11/2023; Hợp đồng mua bán nợ số 18/2024/VPB-MARS ngày 25/12/2024 và Phụ lục đính kèm ký giữa Ngân hàng TMCP V1 với Công ty cổ phần M; Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng 2024; Điều 280, Điều 365, Điều 368, Điều 466 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng M về việc buộc anh anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H phải thanh toán số tiền còn nợ tính đến hết ngày 26/6/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) là 6.023.872.400đồng (trong đó nợ gốc là 5.022.000.000đồng, nợ lãi trong hạn là 73.653.850đồng, lãi quá hạn là 922.967.881đồng, lãi chậm thanh toán là 5.250.669đồng). Trong đó anh A, chị H

phải trả nợ cho CTCP Mars 90% khoản tiền trên tương ứng 5.421.485.160đồng (trong nợ gốc là 4.519.800.000đồng, nợ lãi trong hạn là 66.288.465đồng, lãi quá hạn là 830.671.093đồng, lãi chậm thanh toán là 4.725.602đồng) và trả nợ cho Ngân hàng 10% khoản tiền trên tương ứng 602.387.240đồng (trong đó nợ gốc là 502.200.000đồng, nợ lãi trong hạn là 7.365.385đồng, lãi quá hạn là 92.296.788đồng và lãi chậm thanh toán là 525.067đồng).

Về lãi suất kể từ ngày 27/6/2025 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm): Tại khế ước nhận nợ ngày 27/11/2023 thì lãi suất cho vay tại thời điểm nhận nợ là 5%/năm, tại khoản 9 Điều 1 của Hợp đồng cho vay và khoản 5 Điều 1 của Khế ước nhận nợ thỏa thuận lãi suất cho vay được điều chỉnh lần đầu vào ngày 27/12/2023 và tiếp tục được điều chỉnh định kỳ 01 lần/tháng và được công bố trên website: www.V2.com.vnKể từ ngày 27/8/2024 thì lãi suất trong hạn được điều chỉnh lên thành 11,3%/năm và kể từ ngày 27/11/2024 cho đến nay thì lãi suất trong hạn được điều chỉnh lên thành 11,1%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (cụ thể là 16,65%/năm). Tại phiên tòa Ngân hàng và M đều yêu cầu anh A, chị H phải chịu lãi suất đối với nợ gốc chưa trả kể từ ngày 27/6/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết và khế ước nhận nợ cho đến ngày thực tế anh A, chị H trả hết nợ gốc. Xét thấy, sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật thì bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Bản án, quyết định của Tòa án mà không phải thực hiện trả nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết. Bản án có hiệu lực đã chấm dứt hiệu lực của hợp đồng cho vay giữa các bên, cho nên việc áp dụng lãi suất sau ngày xét xử biến động theo lãi suất của hợp đồng cho vay là không cụ thể, không đảm bảo và khó khăn trong công tác thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc anh A, chị H chịu lãi đối với dư nợ gốc kể từ sau ngày xét xử theo mức lãi suất quá hạn mà anh chị đang phải chịu là 16,65%/năm, như vậy mới phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[2.2] Về xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: Tài sản thế chấp cho khoản vay của anh A, chị H tại Ngân hàng là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, thửa đất có diện tích 615,6m², thửa đất đã được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh V cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2022 đứng tên anh Nguyễn Sơn A. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp xác định diện tích đất theo hiện trạng sử dụng phù hợp với diện tích đất theo GCNQSD đất đã được Sở T cấp cho anh Nguyễn Sơn A và phù hợp với hiện trạng tài sản được nêu trong biên bản định giá tài sản ngày 20/12/2024 giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Các tài sản trên đất hiện nay phù hợp với thời điểm định giá tài sản thế chấp ngày 10/12/2022 và cho đến

nay các tài sản trên đất còn nguyên vẹn, không thay đổi hiện trạng. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là của anh Nguyễn Sơn A nên đủ điều kiện thế chấp theo quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp số LN2212087725952 ngày 10/12/2022 giữa Ngân hàng TMCP V1 với anh Nguyễn Sơn A được lập thành văn bản, được các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tự nguyện ký kết, được công chứng tại Văn phòng C và đã được Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L2 đăng ký giao dịch bảo đảm. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm tại thời điểm đăng ký thế chấp; các Điều 117, Điều 119, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng thế chấp này là hợp pháp và có hiệu lực thực hiện. Do đó, trong trường hợp anh A và chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì căn cứ quy định tại hợp đồng cho vay, hợp đồng thế chấp tài sản, Điều 299, Điều 301, Điều 320 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng và M có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trong trường hợp, sau khi xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả toàn bộ khoản nợ thì số tiền thu được từ việc phát mại được trả cho Ngân hàng M theo tỉ lệ Ngân hàng 10%, M 90% và anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ hết số nợ cho Công ty cổ phần M và Ngân hàng TMCP V1 theo tỷ lệ CTCP Mars 90%, Ngân hàng TMCP V1 10%.

[3] Về án phí và chi phí tố tụng:

[3.1] Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng M được chấp nhận nên anh A và chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.000.000đồng + 2.023.872.400 x 0,1% = 114.023.872đồng (làm tròn thành 114.023.800đồng). Ngân hàng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[3.2] Về chi phí tố tụng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng 2024, các Điều 274, 275, 280, 295, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 321, 323, 365, 368, 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 về việc buộc anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền tính đến hết ngày 26/6/2025 là 602.387.240 đồng (trong đó nợ gốc là 502.200.000đồng, nợ lãi trong hạn là 7.365.385đồng, lãi quá hạn là 92.296.788đồng và lãi chậm thanh toán là 525.067đồng).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M về việc buộc anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H trả cho Công ty cổ phần M tổng số tiền tính đến hết ngày 26/6/2025 là 5.421.485.160đồng (trong nợ gốc là 4.519.800.000đồng, nợ lãi trong hạn là 66.288.465đồng, lãi quá hạn là 830.671.093đồng, lãi chậm thanh toán là 4.725.602đồng)
  3. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M về việc buộc anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H phải chịu lãi đối với dư nợ gốc theo mức lãi suất của Hợp đồng tín dụng số 10076001 ngày 25/11/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V1 và anh Nguyễn Sơn A, chị Nguyễn Thị H.

Kể từ ngày 27/6/2025 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm), anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M với mức lãi suất 16,65%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M.

Trường hợp, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng 615,6m² đất thuộc thửa đất số 482, tờ bản đồ 18 tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, thửa đất đã được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh V cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2022 đứng tên anh Nguyễn Sơn A và toàn bộ tài sản trên đất (gồm 01 nhà hai tầng xây năm 2021, kết câu bê tông cốt thép, tường gạch, nền lát gạch men, sơn nước, tầng 2 đã tháo dỡ mái và bức tường phía sau cửa chính; 01 nhà cấp 4 xây năm 2022, tường gạch mái ngói, nền đổ bê tông, xây ở vị trí giáp đường tỉnh lộ 305C; 01 bếp xây năm 2018 có kết cấu bê tông cốt thép kiên cố, tường gạch, mái đổ bê tông liền kết cấu với nhà hai tầng; 01 sân bê tông phía sau nhà hai tầng; 01 sân lạt gạch đỏ 40 x 40cm phía trước nhà hai tầng; 01 tường bao loan xây tường gạch năm 2018, trát xi cát, sơn nước cao khoảng 2m, xây tại chiều phía Đông của thửa đất; 01 tường bao loan xây gạch đỏ năm 2018, không trát, cao khoảng 1,5m, xây ở chiều phía Tây và chiều phía Nam của thửa đất; 02 trụ cổng làm năm 2018 cao khoảng 2,5m vuông 50 x 50cm, xây gạch trát xi cát, sơn nước và 02 cánh cổng sắt; 01 cây vú sữa đường kính gốc khoảng 15cm và một số cây tạp còn nhỏ không có giá trị). (Có sơ đồ kèm theo).

Trường hợp, sau khi xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả toàn bộ khoản nợ thì số tiền thu được từ việc phát mại được trả cho Ngân hàng và Công ty cổ phần M theo tỉ lệ Ngân hàng 10%, Công ty cổ phần M 90% và anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H tiếp tục phải trả khoản nợ còn thiếu cho Công ty cổ phần M và Ngân hàng TMCP V1 theo tỷ lệ Công ty cổ phần M, Ngân hàng TMCP V1 10%.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Sơn A và chị Nguyễn Thị H phải chịu 114.023.800đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M không phải chịu án phí, hoàn trả Ngân hàng TMCP V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.500.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007225 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Duyên

Nguyễn Thị Nghị

Lê Minh Hoàng

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - CCTHADS huyện Tam Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V - Nguyễn Sơn A - TC HĐTD
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger