|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 24/2025/DS - ST Ngày 20/3/2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn.
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Tp. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N xét xử sơ thẩm công khai khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 196/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 196A/2025/QĐST-HPT ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: NGÂN HÀNG TMCP S. Địa chỉ trụ sở: 26x-26x N, Phường V, quận x, TP Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp Luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Phi P - Chức vụ: Trưởng PGD CN S – PGD N, (Theo QĐ ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S). Ủy quyền lại cho ông Hà Công K – Chức vụ: Chuyên viên (Theo Giấy ủy quyền 19/2025/GUQ-CNSH ngày 19/3/2025 của Trường PGD N). Địa chỉ liên hệ: 484 L, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Xuân T, sinh năm: 198x. Địa chỉ hiện tại: 109 N, phường H, quận N, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng và ý kiến trong quá trình tố tụng tại Tòa án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ông Nguyễn Công V trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S bank) có ký hợp đồng với Ông Võ Xuân T theo hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 11/10/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Ông T, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 70.000.000 đồng với mục đích: tiêu dùng cá nhân.
Đến ngày 25/02/2022 Ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của Ông T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (Dư nợ) sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
- Tính đến ngày 25/8/2024, Ông T còn nợ ngân hàng các khoản sau:
- Dư nợ : 74.963.611 đồng
- Lãi quá hạn : 49.678.020 đồng
- Tổng cộng : 124.641.631 đồng
(Bằng chữ: Một trăm hai mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm ba mươi mốt đồng)
- Lãi suất trong hạn : 2.60%/tháng
- Lãi suất quá hạn : 3.9%/tháng (2.60%x150%).
Ngày 03/01/2025 ông Thanh có trả vào 7.367.000 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu Ông T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Ông T vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng, vi phạm các Điều khoản và Điều kiện đã qui định tại Hợp đồng. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
- Buộc Ông Võ Xuân T phải trả ngay cho Ngân hàng với tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/8/2024 là 117.274.631 đồng trong đó: Dư nợ: 67.596.661 đồng; Lãi quá hạn : 49.678.020 đồng
- Buộc Ông Võ Xuân T phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày xét xử (20/3/2025) cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.
* Bị đơn ông Võ Xuân T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông T vẫn vắng mặt nên không có lời khai của ông Võ Xuân T trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.
* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với các bên đương sự, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là ông Võ Xuân T liên tục vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại các phiên tòa xét xử nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không chấp hành quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ Điều 280 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Võ Xuân T. Ông Võ Xuân T phải trả cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày 25/8/2024 số tiền 117.274.631 đồng trong đó: Dư nợ: 67.596.661 đồng; Lãi quá hạn: 49.678.020 đồng; buộc ông Võ Xuân T tiếp tục trả lãi phát sinh kể ngày 20/3/2025 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính Phủ về thanh toán không dùng tiền mặt và Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30.6.2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng thì tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Võ Xuân T là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ông Võ Xuân T (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt Ông Võ Xuân T.
[2] Về nội dung vụ án:
Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Võ Xuân T ký ngày 11/10/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), có nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần S đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Võ Xuân T với hạn mức sử dụng là 70.000.000 đồng dưới hình thức hạn mức tín dụng, để tiêu dùng cá nhân, lãi suất được tính theo biểu phí do Sacombank công bố trong từng thời kỳ, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Theo thỏa thuận, ông Võ Xuân T có trách nhiệm thanh toán nợ theo thông báo hàng tháng mà Ngân hàng gửi cho ông theo thứ tự ưu tiên thanh toán tại Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Đến ngày 25/10/2022, ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (Dư nợ) sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 25/8/2024 số tiền 117.274.631 đồng trong đó: Dư nợ: 67.596.661 đồng; Lãi quá hạn: 49.678.020 đồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Xuân T phải trả toàn bộ khoản nợ nói trên và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 20/3/2025 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 11/10/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với ông Võ Xuân T trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Võ Xuân T đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo thông báo giao dịch của Ngân hàng, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở ông Võ Xuân T vẫn không trả được nợ. Do đó, ngày 25/10/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Võ Xuân T và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn trên toàn bộ dư nợ theo quy định của Ngân hàng. Như vậy, ông Võ Xuân T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên được cấp thẻ như thỏa thuận tại hợp đồng. Việc khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Xuân T phải trả số tiền tính đến ngày 25/8/2024 là 117.274.631 đồng trong đó: Dư nợ: 67.596.661 đồng; Lãi quá hạn : 49.678.020 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điều 280 của Bộ luật dân sự; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên cần được chấp nhận.
Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 20/3/2025 trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất do các bên thoả thuận tại Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 11/10/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) cho đến khi ông Võ Xuân T thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn là ông Võ Xuân T phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền ông Võ Xuân T phải chịu là (117.274.631 đồng x 5%) = 5.863.732 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 3.106.000 đồng theo biên lai thu số 0003512 ngày 07/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận N, thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227;
- Căn cứ Điều 280 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Võ Xuân T.
1. Xử: Buộc ông Võ Xuân T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 25/8/2024 số tiền 117.274.631 đồng (Một trăm mười bảy triệu, hai trăm bảy mươi bốn nghìn, sáu trăm ba mươi mốt đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 67.596.661 đồng; Lãi quá hạn: 49.678.020 đồng.
Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày xét xử (20/3/2025) trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất do các bên thoả thuận tại Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 11/10/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) cho đến khi ông Võ Xuân T thanh toán xong khoản nợ.
2. Án phí DS - ST: 5.863.732 đồng ông Võ Xuân T phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 3.106.000 đồng theo biên lai thu số 0003512 ngày 07/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận N, thành phố Đà Nẵng.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trâm |
Bản án số 24/2025/DS - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 24/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Võ Xuân T.
