|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 24/2025/DS-ST Ngày: 26-02-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
2. Ông Nguyễn Thế Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 604/2024/TLST- DS ngày 19/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-DS ngày 13/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST – DS ngày 06/02/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K
- Trụ sở chính: Số D P, phường V, TP R, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Chức vụ: Tổng Giám đốc (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Việt Q - Chức vụ: Giám đốc - Phòng xử lý nợ (vắng mặt).
- Uỷ quyền tham gia tố tụng cho: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984 – Chuyên viên xử lý nợ thẻ (có mặt).
- Địa chỉ: A H, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Khu N, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án người đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngày 26/5/2018, Ngân hàng TMCP K đại diện là Ngân hàng TMCP K chi nhánh B1 Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng K) cấp thẻ tín dụng cho bà Phạm Thị M1 theo Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 023/HĐTD/18/TC/2401-701498, các điều khoản sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng K và các văn bản có liên quan khác của bà M1 ký với Ngân hàng về việc sử dụng thẻ tín dụng, cụ thể:
Loại thẻ: Visa; hạn mức: 10.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất cho vay: 28%/năm; phí phạt chậm trả: 3,5%/số tiền chậm trả; phí vượt hạn mức: 0,075%/ngày; kỳ hạn trả lãi vay: vào ngày 10 hàng tháng; khoản vay không có tài sản bảo đảm, hình thức vay tín chấp.
Ngày 28/5/2018 Ngân hàng K đã kích hoạt sử dụng thẻ và giải ngân cho bà M1. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà M1 đã thực hiện các giao dịch gồm rút tiền mặt, mua hàng với tổng số tiền 7.304.629 đồng.
Tuy nhiên bà M1 không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng K theo thông báo giao dịch hàng tháng.
Ngày 06/3/2022, Ngân hàng K đã chuyển khoản nợ của bà M1 sang nợ quá hạn và chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà M1.
Tính đến ngày 26/02/2025, bà M1 còn nợ các khoản tiền sau:
- + Nợ gốc: 7.304.629 đồng
- + Nợ lãi trong hạn: 10.076.372 đồng
- + Nợ các khoản phí gồm phí chậm trả, phí vượt, phí thường niên: 45.338.137 đồng.
Tổng cộng cả gốc, lãi và các khoản phí tính đến ngày 26/02/2025 là 62.719.138 đồng.
Nay Ngân hàng K yêu cầu bà M1 thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 26/02/2025 là 62.719.138 đồng.
Yêu cầu bà M1 tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 27/02/2025 theo hợp đồng sử dụng thẻ đã ký cho đến khi Ngân hàng K thu hồi hết nợ.
Đối với bị đơn bà B Phạm Thị M1:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn bà Phạm Thị M1 theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên bà M1 không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70,71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà M1 phải thanh toán nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ đã ký với ngân hàng K, cụ thể khoản nợ tính đến ngày 26/02/2025 là 62.719.138 đồng. Buộc bà M1 tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 27/02/2025 cho đến khi Ngân hàng K thu hồi hết nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải đóng án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 023/HĐTD/18/TC/2401-701498 được ký kết vào ngày 26/5/2018 giữa Ngân hàng TMCP K và bà Phạm Thị M1 với mục đích vay tiêu dùng cá nhân, nay có phát sinh tranh chấp nên căn cứ Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo tài liệu chứng cứ do Ngân hàng K2, xác định tại thời điểm ký hợp đồng thẻ tín dụng, bị đơn bà M1 cư trú tại Khu nhà ở tập thể C, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến thời điểm thụ lý không có tài liệu nào về địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ giải quyết tranh chấp. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Bà Phạm Thị M1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà M1 theo quy định của pháp luật.
[2]. Nội dung:
[2.1]. Xét tính pháp lý của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên:
Ngân hàng K thực hiện giao dịch cung cấp tín dụng cho bà Phạm Thị M1 theo hình thức thẻ tín dụng cá nhân, loại hình thẻ Visa, hợp đồng được lập thành văn bản có tiêu đề “Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 023/HĐTD/18/TC/2401-701498”ký ngày 26/5/2018, các chủ thể tham gia ký hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thỏa thuận, nội dung thỏa thuận không không trái quy định hay vi phạm điều cấm của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật.
[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Căn cứ hợp đồng tín dụng các bên đã ký và báo cáo tính lãi chi tiết thẻ do Ngân hàng K2 xác định cụ thể như sau: Loại thẻ: Visa; hạn mức: 10.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay: 24 tháng; lãi suất cho vay: 28%/năm; phí phạt chậm trả: 3,5%/số tiền chậm trả; phí vượt hạn mức: 0,075%/ngày; kỳ hạn trả lãi vay: ngày 10 hàng tháng.
Ngày 28/5/2018 Ngân hàng K đã kích hoạt sử dụng thẻ và giải ngân cho bà M1. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà M1 đã thực hiện các giao dịch gồm rút tiền mặt, mua hàng với tổng số tiền 7.304.629 đồng nhưng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng. Do đó, Ngân hàng K yêu cầu bà M1 phải thanh toán số tiền nợ gốc, lãi và các khoản phí phát sinh cho việc sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng.
Theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K xác định tính đến ngày 26/02/2025 bà M1 còn nợ Ngân hàng K tổng số tiền là 62.719.138 đồng trong đó: Nợ gốc là 7.304.629 đồng; nợ lãi trong hạn là 10.076.372 đồng và tổng các khoản phí gồm phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 45.338.137 đồng.
Xét yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu bà M1 cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh quá trình vay và thanh toán của mình, tuy nhiên bà M1 từ chối tham gia tố tụng, không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Trong trường hợp này bị đơn được xem là cố tình vắng mặt nhằm từ chối thực hiện nghĩa vụ đối với nguyên đơn theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký.
Việc bà M1 không thanh toán nợ đúng hạn là vi phạm thoả thuận tại Mục 9- Phần xác nhận thông tin tại “Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 023/HĐTD/18/TC/2401-701498”. Nên căn cứ vào quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự cần buộc bà M1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng K số tiền nợ gốc là 7.304.629 đồng.
Xét yêu cầu thanh toán tiền lãi, phí chậm trả, phí vượt hạn mức và phí thường niên: Ngân hàng K xác định tính đến ngày 26/02/2025 bà M1 còn nợ Ngân hàng số tiền lãi 55.414.509 đồng gồm: Nợ lãi trong hạn: 10.076.372 đồng; tổng các khoản phí gồm phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 45.338.137 đồng.
Tại Khoản 1, 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như sau: “ 1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. 2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. ”
Tại Khoản 1, 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.”
Tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016 quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng như sau: “Chỉ TCPHT được thu phí của chủ thẻ. TCPHT thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của TCPHT phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi. Các hình thức thông báo và cung cấp thông tin về phí cho chủ thẻ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Thời gian từ khi thông báo đến khi áp dụng các thay đổi về phí tối thiểu là 07 ngày và phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ”.
Như vậy lãi suất trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng được áp dụng theo cơ chế tự thỏa thuận, miễn không chạm mức lãi suất do pháp luật hình sự cấm thì đều được công nhận. Mặc dù tại “Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 023/HĐTD/18/TC/2401-701498” không thể hiện cụ thể mức lãi suất và các khoản phí khác nhưng tại Mục 9 - Phần xác nhận thông tin thể hiện “Bằng việc ký vào đơn này, tôi xác nhận rằng tôi đã đọc, hiểu và chấp nhận bị ràng buộc bởi Bản chấp thuận về điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế K1. Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế K1 có thể tìm thấy tại trang website chính thức của K1 hay tại bất kỳ trụ sở/chi nhánh K1 nào hoặc bằng cách gọi Dịch vụ khách hàng 24/7 của K1”. Như vậy “Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 023/HĐTD/18/TC/2401-701498” có thể hiện nội dung dẫn chiếu thông tin về điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế K1 trong đó có quy định về mức lãi suất và các khoản phí khác. Theo đó, mức lãi suất trong trường hợp mở thẻ tín dụng cá nhân không có tài sản bảo đảm là 28%/năm được Ngân hàng TMCP K ban hành tại Phục lục 4 ban hành kèm theo Quyết định số: 3160A/QĐ-NHKL ngày 25/10/2022 về ban hành biểu lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP K và các loại phí dịch vụ thẻ được thực hiện theo Quyết định số: 4691/QĐ-NHKL ngày 01/12/2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP K. Các quyết định nêu trên, được Ngân hàng K công bố công khai và khi tham gia xác lập quan hệ tín dụng với Ngân hàng K, bà M1 có nghĩa vụ phải hiểu rõ và thực hiện đúng cam kết. Do đó lãi suất trong trường hợp mở thẻ tín dụng cá nhân không có tài sản bảo đảm là 28%/năm; phí chậm thanh toán là 3,5% số tiền thanh toán tối thiểu chưa được thanh toán, phí sử dụng vượt hạn mức là 200.000 lần và các khoản phí khác theo quy định của Ngân hàng K là phù hợp với quy định của pháp luật.
Việc bà M1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngoài việc thanh toán nợ gốc thì bà M1 còn phải thanh toán lãi trong hạn và các chi phí sử dụng thẻ theo hợp đồng. Do đó, Ngân hàng K yêu cầu bà M1 phải thanh toán tiền lãi và các khoản phí phát sinh tính đến ngày 26/02/2025 là 55.414.509 đồng và bà M1 phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán các khoản lãi và phí phát sinh tính từ ngày 27/02/2025 cho đến khi Ngân hàng K thu hồi hết nợ là có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cần buộc bà M1 thanh toán cho Ngân hàng K số tiền nợ tính đến ngày 26/02/2025 là 62.719.138 đồng trong đó: Nợ gốc là 7.304.629 đồng; nợ lãi trong hạn là 10.076.372 đồng và tổng các khoản phí gồm phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 45.338.137 đồng. Bà M1 phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán các khoản lãi và phí phát sinh tính từ ngày 27/02/2025 cho đến khi Ngân hàng K thu hồi hết nợ.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên cần buộc bị đơn bà Phạm Thị M1 đóng án phí dân sự sơ thẩm là 62.719.138 đồng x 5% = 3.135.957 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 40, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với bà Phạm Thị M1 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”;
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị M1 phải nộp số tiền 3.135.957đ (ba triệu một trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng). Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền 1.214.000đ (một triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004095 ngày 15/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).
Buộc Bà Phạm Thị M1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ tính đến ngày 26/02/2025 là 62.719.138đ (sáu mươi hai triệu bảy trăm mười chín nghìn một trăm ba mươi tám đồng), trong đó gồm: Nợ gốc: 7.304.629đ (bảy triệu ba trăm lẻ tư nghìn sáu trăm hai mươi chín đồng), nợ lãi trong hạn: 10.076.372đ (mười triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn ba trăm bảy mươi hai đồng) và tổng các khoản phí gồm phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 45.338.137đ (Bốn mươi lăm triệu ba trăm ba mươi tám nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Bà Phạm Thị M1 có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán tiền lãi và các khoản phí phát sinh kể từ ngày 27/02/2025 theo Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số số 023/18/TC/2401-701498 ngày 26/5/2018 cho đến khi Ngân hàng TMCP K thu hồi hết nợ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thu Hiền |
Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 24/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP K - Phạm Thị M tranh chấp tín dụng
