Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 24/2025/DS-ST

Ngày: 21-02-2025.

Về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Kim Hoàng.
  2. Bà Võ Thanh Nga.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 291/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.

Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Thanh Trùng K, sinh năm 1997 “có mặt”.

(Văn bản ủy quyền số 689/2025/UQ-VPB ngày 06/02/2025).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1970 “vắng mặt”.

Địa chỉ: 2 T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Thành H ký kết Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 với nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 800.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu HUYNDAI SANTAFE, sản xuất năm 2021, mới 100%, biển số 51H-944.75; Lãi suất vay: 6.8%/năm, biên độ 3.6%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần.

Tài sản thế chấp để đảm bảo cho Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ký ngày 14/06/2021 là xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại SANTAFE; số khung RLUSU81KBMN023726; Số máy G4KMMA910012, BKS:51H-944.75 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Thành H. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 036885 do Công an Thành phố H cấp ngày 11/06/2021 do ông Nguyễn Thành H đứng tên. Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng thông báo việc kê biên tài sản thi hành án số: 1418919711; hiệu lực đăng ký từ 13 giờ 54 phút, ngày 14/06/2021 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận. Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng TMCP V đã thực hiện việc giải ngân số tiền vay cho ông Nguyễn Thành H theo nội dung hợp đồng đã ký kết.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Thành H đã thanh toán số tiền nợ gốc là 230.220.056 đồng và nợ lãi là 129.702.289 đồng. Kể từ ngày 06/03/2023, ông Nguyễn Thành H không tiếp tục thực hiện việc thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ký ngày 14/06/2021.

Tổng nghĩa vụ nợ của ông Nguyễn Thành H tại Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ký ngày 14/06/2021 tạm tính đến ngày 24/12/2024 là 814.020.865 đồng, trong đó nợ gốc là 569.779.944 đồng; nợ lãi là 244.240.921 đồng.

Ngân hàng TMCP V đã nhiều lần nhiều lần nhắc nợ ông Nguyễn Thành H nhưng ông vẫn không thanh toán nợ vay. Do đó, ngân hàng TMCP V đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Thành H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng dư nợ tạm tính đến ngày 24/12/2024 là 814.020.865 đồng, trong đó nợ gốc là 569.779.944 đồng; nợ lãi là 244.240.921 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Thành H phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi và chi phí phát sinh theo Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ký ngày 14/06/2021 cho đến khi ông Nguyễn Thành H thanh toán xong toàn bộ số nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Thành H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ Ngân hàng TMCP V được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại SANTAFE; số khung RLUSU81KBMN023726; số máy G4KMMA910012, biển kiểm soát: 51H-944.75 mang tên ông Nguyễn Thành H. Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng thông báo việc kê biên tài sản thi hành án số: 1418919711; hiệu lực đăng ký từ 13 giờ 54 phút, ngày 14/06/2021 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận.

Bị đơn ông Nguyễn Thành H mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai tại tòa. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau đây: Ngày 28/10/2024, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra thông báo thụ lý số 291/TB-TLVA và đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý này cho ông Nguyễn Thành H nhưng sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý ông Nguyễn Thành H vẫn không có ý kiến gì. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Thành H đến Tòa án để lấy lời khai, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Thành H đều vắng mặt không có lý do. Do đó trong hồ sơ vụ án không có lời trình bày của bị đơn.

Tại phiên tòa,

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Hồ Thanh Trùng K xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc ông Nguyễn Thành H phải có trách nhiệm thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 là 975.679.571 đồng, trong đó: nợ gốc là 569.779.944 đồng, nợ lãi là 405.899.627 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Thành H còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 đã ký kết với Ngân hàng TMCP V kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. Đồng thời, Ngân hàng TMCP V đề nghị được rút yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại SANTAFE; số khung RLUSU81KBMN023726; số máy G4KMMA910012, biển kiểm soát: 51H-944.75 của ông Nguyễn Thành H.

Bị đơn ông Nguyễn Thành H vắng mặt nên không có lời trình bày tại tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự được tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

    Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc phát mãi tài sản thế chấp đảm bảo là xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại SANTAFE; số khung RLUSU81KBMN023726; số máy G4KMMA910012, biển kiểm soát: 51H-944.75 của ông Nguyễn Thành H.

    Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 và phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ. Về án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về pháp luật tố tụng:
    1. Về quan hệ tranh chấp:

      Xét, Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thành H thanh toán số tiền còn thiếu của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021.

      Như vậy, có cơ sở xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

    2. Về thủ tục tố tụng:

      Căn cứ Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V với ông Nguyễn Thành H thể hiện tại thời điểm ký kết hợp đồng ông Nguyễn Thành H có địa chỉ tại số B T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1970 có hộ khẩu thường trú tại số B T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà giải tỏa năm 2023 đến nay. Hiện tạm trú tại A H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”.

      Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1970 không có hộ khẩu thường trú, không tạm trú, không thực tế cư trú tại A H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”.

      Xét, tại thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Thành H có địa chỉ nơi cư trú tại 2 T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Đơn tường trình của nguyên đơn thì ngân hàng TMCP V không biết địa chỉ nào khác của ông Nguyễn Thành H, ngoại trừ địa chỉ được thể hiện tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Như vậy, địa chỉ 2 T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của ông Nguyễn Thành H. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cố tình giấu địa chỉ không báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện như quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    3. Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:

      Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thành H nhưng ông không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thành H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Thành H.

      Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định pháp luật.

  2. Về pháp luật nội dung:
    1. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc ông Nguyễn Thành H phải thanh toán số tiền nợ gốc của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 là 569.779.944 đồng.

      Xét, Ngân hàng TMCP V được phép hoạt động trong lĩnh vực tín dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp 0100233583-003 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp.

      Xét, Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Thành H đảm bảo về mặt hình thức, nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.

      Tại Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Thành H có nội dung thỏa thuận như sau: Ông Nguyễn Thành H vay của Ngân hàng TMCP V số tiền 800.000.000 đồng, thời hạn vay là 72 tháng, mục đích vay là thanh toán tiền mua xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI SANTAFE 2.5, sản xuất 2021, mới 100% nhằm phục vụ nhu cầu đi lại cá nhân.

      Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn ông Nguyễn Thành H đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng cộng số tiền là 359.922.345 đồng, trong đó: nợ gốc là 230.220.056 đồng và nợ lãi là 129.702.289 đồng.

      Tính đến ngày 21/02/2025, ông Nguyễn Thành H còn thiếu Ngân hàng TMCP V số tiền nợ gốc là 569.779.944 đồng.

      Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Nguyễn Thành H nhưng ông không đến trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn ông Nguyễn Thành H đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.

      Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V buộc bị đơn ông Nguyễn Thành H phải thanh toán số tiền nợ gốc là 569.779.944 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    2. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc ông Nguyễn Thành H phải thanh toán số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 là 405.899.627 đồng.

      Tại Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Thành H có nội dung thỏa thuận như sau: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong 12 tháng kể từ ngày 14/06/2021. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 14/06/2022, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/07/2022. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 72 tháng được ngân hàng C (được niêm yết tại website: www.V1.com.vncó hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,4%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn) bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản nợ gốc của bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết nợ gốc quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.

      Xét, đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết. Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự được ghi nhận tại Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 thì ông Nguyễn Thành H còn nợ Ngân hàng TMCP V tiền lãi tạm tính đến ngày 21/02/2025 là 405.899.627 đồng.

      Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc ông Nguyễn Thành H phải thanh toán số tiền nợ lãi của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 là 405.899.627 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông Nguyễn Thành H còn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 đã ký kết với Ngân hàng TMCP V kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

    3. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc đề nghị phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại SANTAFE; số khung RLUSU81KBMN023726; số máy G4KMMA910012, biển kiểm soát: 51H-944.75 của ông Nguyễn Thành H.

      Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Hồ Thanh T K nộp Đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị phát mãi tài sản thế chấp đảm bảo là xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại SANTAFE; số khung RLUSU81KBMN023726; số máy G4KMMA910012, biển kiểm soát: 51H-944.75 của ông Nguyễn Thành H.

      Xét, đây là sự tự nguyện và ý chí định đoạt của đương sự, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận và quyết định đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

    4. Về thời hạn thanh toán:

      Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định: Ông Nguyễn Thành H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 và nguyên đơn cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình tránh né thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

      Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định mặc dù đã được nguyên đơn đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

      Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.

- Căn cứ vào Điều 280, Điều 292, Điều 293, Điều 298, Điều 299, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.

- Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu thi hành ngày 01/01/2011.

- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.

Xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại SANTAFE; số khung RLUSU81KBMN023726; số máy G4KMMA910012, biển kiểm soát: 51H-944.75 mang tên ông Nguyễn Thành H.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Buộc ông Nguyễn Thành H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 là 975.679.571 đồng (chín trăm bảy mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc là 569.779.944 đồng, nợ lãi là 405.899.627 đồng.

    Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng ông Nguyễn Thành H còn phải có trách nhiệm trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Hợp đồng cho vay số LN2106013818512 ngày 14/06/2021 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Thành H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 41.270.387 đồng (bốn mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi nghìn ba trăm tám mươi bảy đồng).

    Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 16.501.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm lẻ một nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V theo biên lai số 0006676ngày 24/09/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

    Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

    Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH VNTV
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger