Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY NAM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 24/2025/DS-ST

Ngày: 11/02/2025

V/v “tr/c đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Nhặc

Ông Phạm Văn Nam

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Sương (dự khuyết ông Đinh Nhật Trường) - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm Sát Viên.

Trong các ngày từ ngày 05/02/2025 đến ngày 11/02/2025, tại phòng xét xử của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 359/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo thông báo mở lại phiên toà số: 17A/2025/QÐST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Đặng Hoài N, sinh 1987; Trú tại: Ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (người đại diện Hồ Quang P, sinh năm 2001; Trú tại B L làng, khu phố E, phường B, thị xã K, tỉnh Long An có mặt)
  • * Bị đơn: Nguyễn Thanh D, sinh 1964; Trú tại ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn anh Hồ Quang P trình bày: Trước đây anh N có hợp đồng bán thức ăn chăn nuôi gia súc cho ông D, hai bên thỏa thuận khi nào phía ông D bán heo thì thanh toán tiền, thời gian bán heo khoảng 04 tháng kể từ ngày mua thức ăn. Do phía ông D không thực hiện đúng cam kết trả nợ nên đến ngày 25/5/2017 hai bên chấm dứt việc mua bán và tổng kết sổ thì phía ông D còn nợ anh N tổng cộng 162.522.000 đồng từ đó đến nay không trả.

Nay yêu cầu ông D trả số tiền nợ gốc 162.522.000 đồng cho anh N, và yêu cầu tính lãi từ ngày 19/11/2024 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 0.83%/tháng, tổng cộng tiền lãi 3.462.000 đồng. Tổng cộng vốn lãi 165.984.000 đồng. Đối với khoản yêu cầu tiền lãi còn lại kể từ ngày 25/5/2017 đến ngày 18/11/2024 nguyên đơn xin rút lại yêu cầu.

Tại biên bản hoà giải ngày 18/11/2024, đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu ngày 28/11/2024 bị đơn ông Nguyễn Thanh D có lời trình bày: Ông D thừa có mua thức ăn của anh N và còn nợ anh ngân số tiền 162.522.000 đồng và có ký xác nhận nợ ngày 25/5/2017. Nay ông yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu do thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn đã hết, ông đồng ý trả số tiền nợ gốc cho nguyên đơn nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng, lãi suất không đồng ý trả.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng: Các giai đoạn tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện nhiệm vụ tuân thủ đúng các quy định pháp luật, người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật, nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án đề nghị áp dụng điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật dân sự. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông D trả cho ông N số tiền vốn gốc 162.522.000 đồng và lãi suất 3.462.000 đồng. Đề nghị đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn kể từ ngày 25/5/2017 đến ngày 18/11/2024 với mức lãi suất 0.83%/tháng của số tiền vốn gốc 162.522.000 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về thủ tục tố tụng:

  1. Về quyền khởi kiện: Nguyên đơn cho rằng quyền lợi của nguyên đơn bị xâm phạm bởi hợp đồng mua bán tài sản giữa nguyên đơn với ông D, nên khởi kiện. Căn cứ khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguyên đơn anh N có quyền khởi kiện.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của nguyên đơn là tranh chấp hợp đồng dân sự về việc mua bán tài sản. Căn cứ khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã A, huyện M. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.
  3. Về thời hiệu khởi kiện: Các bên xác lập giao dịch mua bán tài sản trước năm 2017, do ông D vi phạm nghĩa vụ trả tiền, nên ngày 25/5/2017 hai bên chấm dứt việc mua bán và đối chiếu công nợ (nghĩa là quyền lợi của nguyên đơn bị xâm phạm từ ngày 25/5/2017). Đến ngày 04/9/2014 thì nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, do bị đơn có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu. Căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện trong vụ án không còn. Tuy nhiên nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện đòi lại tài sản đối với khoản nợ gốc theo quy định tại điều 166 Bộ luật Dân sự. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định lại là “tranh chấp đòi lại tài sản”.

* Về nội dung giải quyết vụ án:

  1. Giao dịch mua bán tài sản giữa các bên được hai bên thừa nhận có thật và phía ông D cũng thừa nhận đã vi phạm nghĩa vụ và còn nợ anh N số tiền 162.522.000 đồng, đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh, ông D xin trả dần không được phía anh N chấp nhận, nên buộc ông D có nghĩa vụ trả cho anh N là phù hợp.
  2. Đối với mức lãi suất và thời gian yêu cầu trả lãi kể từ ngày 19/11/2024 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm, tổng cộng tiền lãi 3.462.000 đồng. Tại phiên toà đại diện cho nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát đều cho rằng do tại biên bản hoà giải ngày 18/11/2024 của Toà án bị đơn ông D đã thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ đối với nguyên đơn, nên thời hiệu khởi kiện bắt đầu tính lại kể từ ngày 18/11/2024 theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 157 Bộ luật dân sự, nên cho rằng nguyên đơn yêu cầu trả lãi kể từ ngày 19/11/2024 đến ngày Toà án xét xử là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy rằng:

    + Các bên xác lập giao dịch mua bán tài sản từ trước 25/5/2017. Do bị đơn ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên các bên đã thoả thuận chấm dứt hợp đồng và kết toán sổ sách đối chiếu công nợ vào ngày 25/5/2017 với tổng số tiền ông D còn nợ anh N là 162.522.000 đồng, các bên không có thoả thuận kéo dài thời gian để thanh toán số tiền trên, nên quyền lợi của nguyên đơn bị xâm phạm cuối cùng vào ngày 25/5/2017. Đến ngày 04/9/2024 thì nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Toà án. Căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện tại thời điểm nguyên đơn nộp đơn khởi kiện đã không còn.

    + Theo quy định tại điều 429 Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện thì nguyên đơn đã biết quyền lợi của nguyên đơn bị xâm phạm từ ngày 25/5/2017 nhưng không khởi kiện trong thời hạn pháp luật cho phép, hoàn toàn không có việc quyền lợi của nguyên đơn bị xâm phạm sau khi Toà án thụ lý vụ án (tức ngày Toà án tổ chức hoà giải để bị đơn thừa nhận nghĩa vụ ngày 18/11/2024)

    + Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 157 Bộ luật dân sự có quy định "bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện” thì được bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự. Quy định của điều luật trên được hiểu rằng, trong các mối quan hệ dân sự (kể cả trong hợp đồng và ngoài hợp đồng và các mối quan hệ dân sự khác nói chung) và quá trình các bên giao kết thực hiện hợp đồng dân sự mua bán tài sản nói riêng, các bên không có bất cứ tài liệu chứng cứ chứng minh bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ không thừa nhận nghĩa vụ với bên có quyền nhưng sau đó đã thừa nhận một phần hoặc thừa nhận toàn bộ mới thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật trên. Trong vụ án này từ khi ký kết thực hiện hợp đồng bị đơn ông D đều thừa nhận nghĩa vụ còn thiếu tiền đối với anh N, cụ thể là biên bản xác nhận nợ ngày 25/5/2017), nên không thể cho rằng ý chí của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong biên bản hoà giải ngày 18/11/2024 của Toà án mới được xem là lời thừa nhận nợ của bị đơn để xem xét bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện như quan điểm của đại diện nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

    + Mặc dù tại điểm a khoản 1 điều 157 Bộ luật dân sự có quy định "bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện” thì được bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, điều luật không quy định thừa nhận trước, ngay hay sau khi khởi kiện tại Toà án. Tuy nhiên tại khoản 3 điều 150 Bộ luật dân sự có quy định: Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Nghĩa là việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện phải được hiểu là phải xảy ra trước khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Toà án, nếu việc khởi kiện thoả mãn về thời hiệu quy định tại khoản 3 khoản điều 150, 429 Bộ luật dân sự.

    Do sau khi Toà án thụ lý giải quyết bị đơn đã có đơn yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu và yêu cầu này được đưa ra trước khi Toà án sơ thẩm ra bản án, nên vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa anh Đặng Hoài N với ông Nguyễn Thanh D đã hết thời hiệu khởi kiện. Do đó bên có nghĩa vụ dân sự là ông D được miễn việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với anh N theo quy định tại khoản 2 điều 150 Bộ luật dân sự.

    Do thời hiệu khởi kiện trong vụ án không còn, nên nguyên đơn chỉ được quyền đòi lại tài sản nợ gốc như đã nhận định nêu trên, phần lãi suất chậm trả từ ngày 25/5/2017 đến ngày 18/11/2024 nguyên đơn xin rút và lãi suất chậm trả nguyên đơn yêu cầu từ ngày 19/11/2024 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm cần phải đình chỉ.

  3. Do ông D vi phạm nghĩa vụ, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Nhưng ông D thuộc diện người cao tuổi, nên được xem xét miễn nộp toàn bộ.
  4. Quan điểm của kiểm sát viên về việc buộc bị đơn trả nợ gốc cho nguyên đơn phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận. Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về việc buộc bị đơn trả lãi suất chậm trả cho nguyên đơn từ ngày 19/11/2024 đến ngày Toà án xét xử là không có cơ sở, nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điều 166, 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 điều 26, điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Đặng Hoài N. Buộc ông Nguyễn Thanh D trả cho anh Đặng Hoài N số tiền 162.522.000 (một trăm sáu mươi hai triệu năm trăm hai mươi hai ngàn) đồng.
  • Đình chỉ vụ án đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lãi suất chậm trả kể từ ngày 25/5/2017 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 0.83%/tháng, tương ứng với số tiền vốn gốc 162.522.000 đồng.
  • Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, khi có đơn yêu cầu thi hành án của anh N, nếu ông D chưa thi hành xong các khoản tiền phải thi hành án thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
  • Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Thanh D chịu, nhưng được miễn nộp toàn bộ.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2014.
  • Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án .Bị đơn ông D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (2b);
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam(1b);
  • - Những người tham gia tố tụng (2b);
  • - Lưu HS, VP, THA (4b).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 11/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 24/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger