Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/DS-PT

Ngày 27/3/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Trần Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn C; địa chỉ: Số A, đường L, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P; địa chỉ: Thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1 Nguyên đơn là ông Trần Văn C trình bày:

Ngày 28/12/2018, ông Trần Văn C nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Đ thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65, diện tích 154m² tại thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai, thửa đất nhận chuyển nhượng có tứ cận phía Đông giáp thửa đất 79 dài 28m, phía Tây đất còn lại dài 28m, phía Nam giáp đường L dài 6m, phía bắc giáp thửa đất còn lại dài 5m. Sau đó, ông C đã làm thủ tục kê khai và được được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 747518 cấp ngày 31/01/2019. Khi nhận chuyển nhượng đất thì đất có ranh giới rõ ràng, ông N có đóng cọc sắt ở phía Bắc để làm ranh giới với phần đất còn lại của vợ chồng ông N, còn phía Nam thì đã có hàng rào. Bà Nguyễn Thị P nhận chuyển nhượng thửa đất liền kề với thửa đất của ông C là thửa đất số 280, tờ bản đồ số 65 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 017939 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 26/9/2022. Trong quá trình sử dụng đất, năm 2023 khi bà P xây nhà phía sau thì ông C có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C và chỉ ranh giới đất cho bà P biết để làm cho đúng ranh giới nhưng bà P vẫn xây nhà lấn chiếm một phần đất thuộc thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65 của ông C. Ông C đã yêu cầu bà P trả lại đất và yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn I hoà giải nhưng không thành.

Do vậy, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị P phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất, trả lại cho ông Cẩm phần diện tích đất đã lấn chiếm có tứ cận như sau: Đông giáp đất ông Trần Văn C, có chiều dài là 28m; Tây giáp đất bà Nguyễn Thị P, có chiều dài là 28,02m; Nam giáp đường L; Bắc giáp đất ông N, có chiều dài là 0,5m. Thửa đất có diện tích là 7m² thuộc thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65 tại thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 747518 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 31/01/2019 cho ông Trần Văn C.

1.2 Bị đơn là bà Nguyễn Thị P trình bày:

Ngày 05/7/2022, bà Nguyễn Thị P nhận chuyển nhượng thửa đất số 280, tờ bản đồ số 65, diện tích 223,5m² tại thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai của vợ chồng ông Trần Trung N, bà P đã kê khai và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 017939 cấp ngày 26/9/2022. Việc nhận chuyển nhượng đất là hợp pháp và khi nhận chuyển nhượng thì ông N có đi cùng để chỉ mốc giới đất, trên đất cũng đã có nhà, sau này bà P mới xây dựng thêm phần nhà sau và hàng rào vào tháng 01 năm 2024. Lúc làm nhà và hàng rào, bà P có đo đạc lại đất thấy phía sau bị thiếu đất, không đủ 05m nên cháu của bà P tên là M có nhổ cọc mốc bằng sắt chỉ làm nhà ra 4,8m, trừ lại 20cm. Bà P cũng đang bị thiếu đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.

1.3 Người làm chứng là ông Trần Trung N trình bày:

Vào cuối năm 2018, vợ chồng ông N có chuyển nhượng cho ông Trần Văn C thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65, diện tích 154m² tại thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Thửa đất này có chiều rộng phía mặt đường Lý Thái tổ là 06m và phía sau là 05m, dài 28m. Sau khi chuyển nhượng, ông N và ông C cũng đã đóng cọc sắt vuông phía sau để xác định ranh giới đất. Đến giữa năm 2022, vợ chồng ông N làm thủ tục chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị P phần đất còn lại giáp thửa đất đã chuyển nhượng cho ông C. Thửa đất này vợ chồng ông N đã chuyển nhượng cho người khác cũng tên là bà P là người kinh doanh bất động sản nay ông N không còn nhớ đầy đủ tên và địa chỉ nhưng đất vẫn còn đứng tên vợ chồng ông N nên ông N đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng. Khi chuyển nhượng ông N cũng đã nói rõ là phần đất bên cạnh vợ chồng ông N đã chuyển nhượng cho ông C là 6m x 5m, phần còn lại thì chuyển nhượng cho bà P, ông N có chỉ ranh giới đất phía trước và phía sau. Trong đó phía sau vẫn còn cọc sắt mà ông N và ông C đã đóng khi chuyển nhượng. Ranh giới đất chuyển nhượng cho bà P lúc đó cũng có ranh giới là nhà cũ của vợ chồng ông N và bên cạnh là đất đã chuyển nhượng cho ông C. Ông N cũng đã tham gia phiên hoà giải tại Ủy ban nhân dân thị trấn I, biết việc thửa đất của bà P thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên nhân thì ông N không biết vì khi đi đo đạc đất thì ông N dẫn cán bộ đo đạc đi chỉ mốc giới đất còn kết quả đo đạc thì ông N không biết.

2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

  • - Áp dụng các Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C.

Buộc bà Nguyễn Thị P phải phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng là Nhà ở riêng lẻ móng xây đá, tường xây gạch, nền lát gạch ceramic 40 x 40, có tô trát, sơn nước, có sê nô mặt trước, mái lợp tôn. Có diện tích (1,922m x 0,289m) : 2 = 0,28m²; Nhà ở riêng lẻ một tầng, tường xây gạch, nền lát gạch ceramic 40 x 40, có tô trát, sơn nước, không sê nô mặt trước, mái lợp tôn. Diện tích (0,29m x 0,39m) : 2 x 5,3m = 1,8m²; Hàng rào chân gạch cao 1,2m, phía trên lưới B40 trụ bê tông cốt thép cao 1,8m. Có diện tích (1,2m + 1,8m) x 5,8m = 17,4m²; Hàng rào lưới B40 trụ bê tông cốt thép cao 1,8m. Có diện tích 11,7m x 1,8m = 21,06m² để trả lại cho ông Trần Văn C toàn bộ phần đất lấn chiếm có tứ cận như sau: Đông giáp đất ông Trần Văn C, có chiều dài là 28m; Tây giáp đất bà Nguyễn Thị P, có chiều dài là 28,02m; Nam giáp đường L; Bắc giáp đất ông N, có chiều dài là 0,5m. Thửa đất có diện tích là 7m² thuộc thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65 tại thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 747518 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 31/01/2019 cho ông Trần Văn C.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí, chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản của các đương sự theo quy định của pháp luật.

3. Về kháng cáo, kháng nghị:

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị P có đơn kháng cáo về việc đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • - Nguyên đơn ông Trần Văn C không kháng cáo.
  • - Bản án không bị kháng nghị.

4. Diễn biến tại phiên tòa:

  • - Bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
  • - Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát xác định nguyên đơn và bị đơn đều bị thiếu diện tích đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất khi chuyển nhượng đã có ranh giới rõ ràng, cụ thể do vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên để đảm bảo tính ổn định đề nghị bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn giá trị quyền sử dụng đất 7m² theo biên bản định giá và không phải tháo dở các công trình trên đất tranh chấp. Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

Ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị P đều nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Trần Trung N, trong đó ông C nhận chuyển nhượng thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65, diện tích 154m² vào cuối năm 2018; còn bà P nhận chuyển nhượng thửa đất số 280, tờ bản đồ số 65, diện tích 223,5m² là phần đất còn lại giáp thửa đất đã chuyển nhượng cho ông C vào năm 2022.

Sau khi nguyên đơn ông C nhận chuyển nhượng năm 2018, ông N và ông C đã đóng cọc sắt vuông phía sau để xác định ranh giới đất. Còn bà P nhận chuyển nhượng sau năm 2022, khi đo đạc lại để làm nhà, vì thấy diện tích đất thiếu nên cháu của bà P là ông M đã nhổ bỏ cọc sắt làm ranh giới.

[2.2] Về hiện trạng sử dụng đất:

Thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65 hiện ông C đang sử dụng có diện tích là 144,5m², còn thiếu 9,5m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thửa đất 280, tờ bản đồ số 65 hiện bà P đang sử dụng có diện tích 209,4m², còn thiếu 14,1m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có căn cứ bà P nhận chuyển nhượng phần diện tích còn lại của ông N sau khi đã chuyển nhượng cho ông C, giữa các thửa đất đều có ranh giới rõ ràng, trước thời điểm nhận chuyển nhượng các bên đã tiến hành kiểm tra ranh giới, mốc giới rõ ràng nhưng không tiến hành đo đạc. Như vậy, phần diện tích bà P nhận chuyển nhượng của ông N là phần diện tích đất thực tế chứ không phải theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những phân tích nêu trên không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Nguyễn Thị P nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị P.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Trần Văn C với bị đơn là bà Nguyễn Thị P.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C.

Buộc bà Nguyễn Thị P phải phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng là Nhà ở riêng lẻ móng xây đá, tường xây gạch, nền lát gạch ceramic 40 x 40, có tô trát, sơn nước, có sê nô mặt trước, mái lợp tôn. Có diện tích (1,922m x 0,289m) : 2 = 0,28m²; Nhà ở riêng lẻ một tầng, tường xây gạch, nền lát gạch ceramic 40 x 40, có tô trát, sơn nước, không sê nô mặt trước, mái lợp tôn. Diện tích (0,29m x 0,39m) : 2 x 5,3m = 1,8m²; Hàng rào chân gạch cao 1,2m, phía trên lưới B40 trụ bê tông cốt thép cao 1,8m. Có diện tích (1,2m + 1,8m) x 5,8m = 17,4m²; Hàng rào lưới B40 trụ bê tông cốt thép cao 1,8m. Có diện tích 11,7m x 1,8m = 21,06m² để trả lại cho ông Trần Văn C toàn bộ phần đất lấn chiếm có tứ cận như sau: Đông giáp đất ông Trần Văn C, có chiều dài là 28m; Tây giáp đất bà Nguyễn Thị P, có chiều dài là 28,02m; Nam giáp đường L; Bắc giáp đất ông N, có chiều dài là 0,5m. Thửa đất có diện tích là 7m² thuộc thửa đất số 208, tờ bản đồ số 65 tại thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 747518 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 31/01/2019 cho ông Trần Văn C.

2. Buộc bà Nguyễn Thị P phải trả lại cho ông Trần Văn C toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng) và định giá tài sản là 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng), tổng cộng là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch phải nộp là 886.000 đồng (tám trăm tám mươi sáu nghìn đồng) cho bà Nguyễn Thị P. Trả lại cho ông Trần Văn C toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0009496 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

4. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009772 ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND huyện Ia Grai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Ia Grai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/DS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 24/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger