|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/DS-PT Ngày: 13/3/2025 V/v: Kiện đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như
Các Thẩm phán: Bà Tô Thị Thuỳ Ngân
Bà Nông Biên Hoà
- Thư ký phiên toà: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 về việc Kiện đòi lại tài sản (tiền).
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 53/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Hoàng Văn Thời – sinh năm: 1972.
- Nông Thị Quy – sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Nhung – sinh năm: 1965.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bế Văn Bắc – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Hoàng Thị Diệp Hảo – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn Lý
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà có lý do.
- Người làm chứng:
- Ông Lộc Văn Thắng
- Ông Nguyễn Ngọc Bội
- Ông Đinh Công Hoan
- Bà Hoàng Thị Phỏ
- Bà Nông Thị Viên
- Bà Triệu Thị Liên
- Ông Hoàng Hồng Phong. Có mặt tại phiên tòa
- Ông Ngọc Văn Sè
- Bà Phan Thị Quyên
- Ông Đặng Anh Tài
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Danh, xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Đều vắng mặt tại phiên tòa
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn Nông Thị Quy trình bày:
Bà Hoàng Thị Nhung là họ hàng với nhà chồng bà. Ngày 26/10/1996, bà Nhung vay bà số tiền 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng). Việc vay mượn này không tính lãi, thời gian vay là 02 tháng và bà Nhung không nói mục đích vay. Khi vay không viết giấy vay mà bà viết vào tủ gỗ ngay sau khi đưa tiền cho bà Nhung. Việc vay mượn này chỉ có bà, ông Thời, bà Nhung biết. Tại thời điểm năm 1996 bà Nhung vay số tiền 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng) tuy nhiên hiện nay bà yêu cầu bà Nhung phải thanh toán số tiền 17.000.000,đ (mười bảy triệu đồng) bởi bà quy đổi theo giá tiền của thịt lợn hơi năm 2017. Ông Hoan, ông Thế là người quy đổi giá trị số tiền vay cho bà tại nhà văn hóa thôn Nà Cúm năm 2017 khi giải quyết việc vay mượn giữa bà và bà Nhung. Số tiền 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng) bà cho bà Nhung mượn bao gồm các mệnh giá như sau: 02 (hai) tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng; 05 (năm) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. Cuối năm 1998 đến năm 2004, Bà Nhung, ông Lý (chồng bà Nhung), bà Sáy (mẹ chồng bà Nhung) đã lấy 100 chai rượu nhà bà (chai 650ml). Mỗi chai rượu có giá 8000,đ (tám nghìn đồng) vào năm 2017. Bà Hoàng Thị Sáy (mẹ chồng bà Nhung - đã chết), bà Nhung, ông Lý (chồng bà Nhung) là những người đã lấy rượu. Mỗi lần lấy rượu bà không ghi vào sổ, chỉ ghi vào tủ tường, không có người làm chứng. Các khoản tiền trên bà đều tự ghi vào cánh tủ bằng than củi, không có xác nhận của bà Nhung. Chữ trên cánh tủ là chữ của bà ngoài ra không có ai viết. Tổng số tiền bà yêu cầu là 33.800.000,₫ (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng), không yêu cầu tiền lãi. Năm 2002, bà Quy không được chứng kiến trực tiếp việc trâu nhà bà Nhung ăn cây ngô nhà bà. Trâu của gia đình bà Nhung ăn cây ngô của gia đình bà đang trồng với số lượng cây không đếm được nên quy ra thành hạt giống ngô là gần 01 túi (01kg). Ông Ngọc Văn Sè là người chứng kiến việc này rồi nói lại với bà Quy, ông Sè chỉ nói là trâu ăn ngô mà không nói cụ thể là ăn ngô tại vị trí nào. Khi bà Quy tìm gặp bà Nhung thì bà Nhung tự nhận là trâu nhà bà Nhung. Ngô bị trâu ăn đã mọc lên cao, nếu trâu không ăn cây ngô thì ngô sẽ thành bắp ngô với sản lượng khoảng 200kg. Do vậy, bà Quy yêu cầu bà Nhung trả 1.000.000,₫ (một triệu đồng). Năm 2007, bà Quy không nhìn thấy bà Nhung lấy bắp cải nhà bà Quy mà thấy bà Nhung đi bán bắp cải, bà Nhung lấy cải bắp của gia đình bà Quy đi bán. Bà Hoàng Thị Sáy (đã chết), bà Triệu Thị Cắm (đã chết) là người trồng rau bên cạnh ruộng nhà bà Quy nói với bà Quy việc bà Nhung lấy bắp cải của gia đình bà Quy. Vườn cây rau bắp cải này ở Pò Lầu (xóm Nà Cúm, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) do ông Hoàng Văn Thàm hiện đang quản lý, sử dụng. Bà Quy đưa ra yêu cầu đền bù đối với 1000 cây bắp cải bởi bà đi mua giống về trồng, khi trồng cây bắp cải không chết cây nào. Bà Quy được trồng 1.200 cây tuy nhiên bà Quy tính tròn 1.000 cây. Số cây bắp cải trồng được bà Quy chưa bán lần nào. Số lượng 1000 cây với giá 15.000,đ/cây vào thời điểm năm 2017. Số tiền bắp cải bà Quy yêu cầu bà Nhung trả là 15.000.000,₫ (mười lăm triệu đồng). Bà Quy không có tài liệu chứng minh liên quan đến yêu cầu bồi thường giá trị số cây bắp cải. Mỗi cây bắp cải bà xác định nặng 01kg. Tối tháng 10/2017, bà Nhung xin bà 02 cây bắp cải để ăn nên bà Quy đã cho. Năm 2017, việc vay mượn (tiền và tài sản) giữa bà Quy với bà Nhung đã được thôn Nà Cúm hòa giải. Tham gia hòa giải gồm bà Hoàng Thị Phỏ (hội người cao tuổi); bà Triệu Thị Liên (mặt trận thôn); ông Đặng Văn Thuấn (đoàn viên thanh niên); ông Đặng Văn Tài. Khi tiến hành hòa giải có lập biên bản nhưng bà Quy không được giữ và không biết ai là người giữ biên bản.
Tổng số tiền bà Quy yêu cầu bà Hoàng Thị Nhung phải trả là 33.800.000,₫ (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng). Đây là số tiền gốc, bà không yêu cầu tính lãi. Bà Quy không yêu cầu giám định chữ ký và tuổi mực của chữ bà ghi lại trên tủ gỗ ở nhà.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà sơ thẩm đồng nguyên đơn Hoàng Văn Thời trình bày:
Tháng 10/1996, gia đình ông bán khoảng 200kg lợn được 72.000 đồng (bảy mươi hai nghìn đồng). Gia đình ông đã cho bà Nhung vay 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng). Ông nghe bà Quy kể lại việc quy đổi số tiền này thành 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng) vì ông không tham gia hòa giải tại nhà văn hóa thôn Nà Cúm năm 2017. Nay ông quy số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) thành 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng) theo giá trị thịt lợn. Gia đình ông đã đòi bà Nhung nhiều lần nhưng bà Nhung không trả. Năm 1998 đến năm 2004, bà Nhung lấy rượu của gia đình ông tổng cộng 100 chai, mỗi chai giá 8.000 đồng (giá này được tính theo giá năm 2017). Bà Quy có ghi chép việc này vào cánh tủ, tuy nhiên không có ai chứng kiến việc bà Nhung lấy rượu. Ông yêu cầu bà Nhung trả 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).Năm 2007, bà Nhung lấy cải bắp của gia đình ông đi bán, số lượng 1.000 cây, giá 15.000 đồng/cây. Số tiền bắp cải ông yêu cầu bà Nhung trả là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Số bắp cải này do ông trồng. Năm 2009, trâu của gia đình bà Nhung ăn cây ngô của gia đình ông. Do không xác định được số cây ngô bị trâu ăn nên ông ước lượng số cây ngô bị ăn bằng hạt ngô (tính theo kg). Ông Hoan, ông Thế đã tính cho gia đình ông là 200kg ngô khô. Khi đó ông yêu cầu bà Nhung trả 1.000.000 đồng (một triệu đồng), bà Nhung nói khi nào có tiền mới trả được. Nay ông yêu cầu bà Nhung trả số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Số tiền này bao gồm giống cây trồng, phân đạm và tiền công. Việc trâu nhà bà Nhung ăn ngô có ông Ngọc Văn Sè chứng kiến. Ông yêu cầu bà Hoàng Thị Nhung trả tổng số tiền 33.800.000 đồng (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng), không yêu cầu tiền lãi.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà sơ thẩm bị đơn Hoàng Thị Nhung trình bày:
Năm 1996, không có việc bà vay tiền ông Thời, bà Quy. Ngoài năm 1996 bà cũng không được vay ông Thời, bà Quy. Thời điểm cuối năm 1996 đến năm 2000, bà nấu rượu để bán và lấy bã về chăn lợn. Bà Nông Thị Sáy (mẹ chồng bà - đã chết năm 2010), chồng bà ông Hoàng Văn Lý không được sang nhà bà Quy, ông Thời lấy rượu. Do vậy, việc gia đình bà lấy rượu nhà bà Quy là không đúng. Việc bà nấu rượu năm 1996-2000 có bà Phan Thị Quyên; bà Nông Thị Viên biết. Khi tiến hành việc hòa giải tại Tòa án, bà Quy trình bày bà vay bà Quy số tiền 500.000,đ (năm trăm nghìn đồng) sau đó lại thay đổi thành số tiền 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng) trong đó có 02 (hai) tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng, 05 (năm) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. Năm 2015 có đợt xét cứu đói của xóm, nhà bà Quy có 04 người. Do con bà Quy đã đi làm nên chỉ được xét 03 người. Từ đó bà Quy, ông Thời đòi tiền bà vì cho rằng bà nợ ông Thời, bà Quy. Ngày 28/10/2016, bà không được vay bà Quy ông Thời số tiền 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng). Thời điểm đó nhà nước đang lưu hành tiền giấy chứ không phải tiền polymer như bà Quy trình bày. Gia đình bà không được lấy 100 chai rượu như bà Quy trình bày bởi bà nấu rượu từ năm 1996 – 2000. Buổi chiều năm 2007, bà được lấy 02 cây bắp cải của nhà ông Thời, bà Quy do bà Quy mời bà lấy. Ngoài ra, bà không được lấy cây bắp cải nào của nhà ông Thời, bà Quy. Vườn nhà ông Thời, bà Quy diện tích nhỏ không thể trồng được 1000 cây bắp cải. Hiện nay, đám vườn trồng rau bắp cải này do ông Hoàng Hồng Phong đang canh tác, sử dụng. Bà không được lấy 1000 cây bắp cải bởi diện tích đất bà Quy thời điểm đó trồng và sau này là ông Thàm, ông Phong hiện sử dụng chỉ là 198m2. Bà biết rõ diện tích đất bởi bà thuộc thành phần đi giải phóng mặt bằng. Năm 2007, gia đình bà không có trâu. Thời điểm đó, con trai bà đi chăn trâu thuê cho nhà ông Lộc Văn Thắng - trưởng thôn Nà Cúm cũ. Do vậy, không có sự việc trâu nhà bà ăn ngô nhà bà Quy, ông Thời. Tháng 11/2009 (âm lịch), gia đình bà mới mua trâu với gia đình ông Ngô Đức Thuận với giá 6.800.000,₫ (sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Tháng 12/2009 gia đình bà mua trâu với ông Thuận. Trâu của bà ăn ngô của bà Lê Thị Mệt (đám nhà bà Mệt liền kề, đám trên đám dưới với đám đất nhà ông Thời). Năm 2017, con gái bà Quy viết và nộp đơn cho ông Bội – bí thư xóm để giải quyết việc giữa bà và bà Quy. Mặt trận tổ quốc xóm đã họp và xác định không có căn cứ để giải quyết việc này. Việc này có biên bản họp và ông Phếm (đã chết) cầm còn bà sau khi họp bà không được cầm biên bản. Năm 2015, có đợt họp xét hộ nghèo cuối năm. Gia đình bà Quy được hộ nghèo thì có đợt cứu đói giáp hạt Tết. Gia đình bà Quy có 04 người thì chỉ được 03 suất, còn 01 suất không được vì con gái đã học ra trường có thể tự kiếm tiền nuôi sống bản thân nên từ đó gia đình bà Quy, ông Thời mới nảy ra sự việc bà nợ tiền. Ngày 30/8/2017, do bà Quy có đơn nên Ban công tác mặt trận xóm Nà Cúm đã họp với thành phần tham gia gồm ông Nguyễn Ngọc Bội - Bí thư chi bộ xóm; ông Triệu Quốc Phếm - công an viên (đã chết); bà Triệu Thị Liên - trưởng ban công tác mặt trận xóm; ông Đặng Công Thuấn - thôn đội trưởng; bà Triệu Thị Vèn - hội trưởng hội nông dân; bà Hoàng Thị Phỏ - hội người cao tuổi. Ông Nông Cao Thế - Bí thư thị trấn Đông Khê không tham gia hòa giải ngày 30/8/2017. Kết quả buổi hòa giải là không có căn cứ, giấy tờ và lập biên bản nhưng bà không được ký biên bản hòa giải. Khi đang hòa giải thì khoảng 15 giờ 30 phút ông Đinh Công Hoan - trưởng công an thị trấn Đông Khê thời điểm đó vào đưa giấy mời cho ông Triệu Quốc Phếm. Ông Hoan vào ngồi nghe một lúc và trình bày: “Theo đơn của bà Quy yêu cầu là 500.000,đ, 1200 cây bắp cải, 100 chai rượu, 1.000.000,đ tiền giống ngô có căn cứ gì không, nếu có căn cứ thì bà Nhung phải trả ba mươi mấy triệu à”. Từ thời điểm đó, bà Quy cứ vin vào đó để yêu cầu bà thanh toán tiền cho bà Quy. Ông Thời, bà Quy yêu cầu bà phải trả số tiền 33.800.000,đ (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng) bà không nhất trí bởi bà không được vay mượn tiền hay tài sản nào của bà Quy, ông Thời. Bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Quy ông Thời.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn Lý trình bày:
Năm 1998-2004, ông không được lấy rượu nhà bà Quy. Ngoài thời gian này ông cũng không được đến nhà bà Quy lấy rượu lần nào. Từ trước đến nay gia đình ông không nấu rượu. Từ năm 2020 trở về đây ông thỉnh thoảng đi mua rượu ở quán nhà bà Quang, ông không đến nhà bà Quy lấy rượu lần nào. Hồi trước trong làng có 03 nhà nấu rượu (nhà bà Mao, nhà bà Quyên, nhà ông Thời) nhưng ông không mua rượu nhà ông Thời lần nào. Những năm trước ông đi làm thuê có tiền nên mua rượu ở quán và trả tiền luôn, không nợ. Từ trước đến nay không có việc trâu của gia đình ông ăn cây ngô của nhà ông Thời, bà Quy. Khoảng năm 2005- 2006, gia đình ông mua 01 con trâu đực với ông Ngô Đức Thuận với giá 25.000.000,đ (hai mươi lăm triệu đồng). Hàng ngày, ông là người phụ trách chăn trâu. Năm 2010, gia đình ông bán trâu. Từ trước đến nay gia đình ông không chăn trâu hộ gia đình ông Lộc Văn Thắng lần nào, chỉ tự chăn trâu của gia đình. Khoảng năm 2006 - 2007, bà Nhung và bà Quy quan hệ còn tốt nên bà Quy bảo bà Nhung đi lấy bắp cải. Bà Nhung có đi lấy 06 cây bắp cải về chăn lợn do cây bắp cải bị cứng, không thành ăn. Ngoài lần lấy 06 cây bắp cải này ra ông không thấy bà Nhung lấy bắp cải nhà bà Quy lần nào khác. Về việc năm 1996 bà Nhung vay bà Quy số tiền 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng) là không có.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản làm việc ngày 26/8/2024, người làm chứng ông Lộc Văn Thằng trình bày: Ông được nhờ nhà bà Nhung chăn trâu giúp (trông trâu hộ), không có việc ông thuê nhà bà Nhung chăn trâu. Ông không nhớ thời điểm nhờ chăn giúp.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, ông Nguyễn Ngọc Bội trình bày: Ngày 30/8/2017, ông được tham gia hòa giải tại thôn với tư cách là chi bộ thôn về việc bà Quy yêu cầu bà Hoàng Thị Nhung trả tiền do bà Nhung vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp, trâu ăn cây ngô tính là 100kg hạt ngô. Kết quả buổi hòa giải là không có căn cứ về việc bà Nhung vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, lấy 1200 cây cải bắp, trâu ăn cây ngô tính là 100kg hạt ngô. Do vậy không thể giải quyết được. Trong buổi hòa giải bà Nhung trình bày không được vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, lấy 1200 cây cải bắp và không có việc trâu ăn cây ngô nhà bà Quy. Ông không biết việc bà Nhung vay tiền bà Quy, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và việc trâu ăn ngô, ông chỉ được tham gia hỏa giải tại thôn ngày 30/8/2017.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, ông Đinh Công Hoan trình bày: Năm 2017, ông là trưởng công an thị trấn Đông Khê. Ngày 30/8/2017, ông theo dõi hòa giải xem năng lực hòa giải tại thôn như thế nào. Hôm đấy thôn Nà Cúm cũ (nay là thôn Nà Báng) hòa giải về việc bà Quy yêu cầu bà Hoàng Thị Nhung trả tiền do bà Nhung vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp, trâu ăn cây ngô nhà bà Quy tính là 100kg hạt ngô. Ông được theo dõi việc hòa giải từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Kết quả buổi hòa giải là không có căn cứ về việc bà Nhung vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp, trâu ăn cây ngô nhà bà Quy tính là 100kg hạt ngô. Do vậy, không thể giải quyết được đơn yêu cầu của bà Quy. Trong buổi hòa giải bà Nhung trình bày không được vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và không có trâu ăn cây ngô nhà bà Quy. Ông không biết việc bà Nhung vay tiền bà Quy, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và việc trâu ăn ngô. Ông chỉ theo dõi buổi hòa giải tại thôn ngày 30/8/2017.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, bà Hoàng Thị Phỏ trình bày: Năm 2017, bà ở hội người cao tuổi của thôn nên ngày 30/8/2017 bà được mời tham gia hòa giải. Hôm đấy thôn Nà Cúm cũ (nay là thôn Nà Báng) hòa giải về việc bà Quy yêu cầu bà Hoàng Thị Nhung trả tiền do bà Nhung vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp, trâu ăn cây ngô nhà bà Quy tính là 100kg hạt ngô. Bà được theo dõi việc hòa giải từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Kết quả buổi hòa giải là không có căn cứ về việc bà Nhung vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp, trâu ăn cây ngô nhà bà Quy tính là 100kg hạt ngô. Do vậy không thể giải quyết được đơn yêu cầu của bà Quy. Trong buổi hòa giải bà Nhung trình bày không được vay số tiền 500.000,đ, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và không có trâu ăn cây ngô nhà bà Quy. Bà không biết việc bà Nhung vay tiền bà Quy, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và việc trâu ăn ngô. Bà chỉ được tham gia buổi hòa giải tại thôn ngày 30/8/2017.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, bà Nông Thị Viên trình bày: Bà là hàng xóm cạnh nhà bà Nhung. Bà không được chứng kiến việc bà Nhung sang nhà bà Quy lấy rượu. Bà không biết việc bà Nhung vay tiền bà Quy, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và việc trâu ăn ngô. Bà nhớ có thời điểm bà Nhung cũng nấu rượu để mang đi Vân Trình bán nhưng thời gian cụ thể bà không nhớ.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, bà Triệu Thị Liên trình bày: Năm 2017, bà là trưởng ban công tác mặt trận thôn nên được tham gia hòa giải ngày 30/8/2017 về việc bà Quy có đơn yêu cầu bà Nhung trả tiền do bà Nhung vay tiền bà Quy, bà Nhung lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây bắp cải và trâu nhà bà Nhung ăn cây ngô của nhà bà Quy. Kết quả buổi hòa giải ngày 30/8/2017, không có căn cứ để giải quyết đơn yêu cầu của bà Quy do vậy không giải quyết được. Trong buổi hòa giải ngày 30/8/2017 bà Nhung có trình bày là “tôi không được lấy". Bà không biết việc bà Nhung vay tiền bà Quy, lấy 100 chai rượu trắng, lấy 1200 cây cải bắp.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, ông Hoàng Hồng Phong trình bày: Ông là anh trai ruột của bà Quy. Ông đi làm tại Hải Phòng từ năm 1994-1996. Ông thường xuyên đi làm xa nhà nên không biết việc bà Nhung vay bà Quy số tiền 50.000,₫ năm 1996, bà Nhung lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và việc trâu nhà bà Nhung ăn ngô nhà bà Quy. Ông không được tham gia hòa giải ngày 30/8/2017 tại thôn Nà Cúm cũ (nay là thôn Nà Báng).
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, ông Ngọc Văn Sè trình bày: Ông là hàng xóm của bà Quy, bà Nhung. Ông không được chứng kiến việc năm 2002 trâu nhà bà Nhung ăn cây ngô của nhà bà Quy. Ông cũng không biết việc năm 1996 bà Nhung vay bà Quy số tiền 50.000,đ, bà Nhung lấy rượu và bắp cải nhà bà Quy. Ông không được tham gia hòa giải ngày 30/8/2017 tại thôn Nà Cúm cũ (nay là thôn Nà Báng).
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 28/8/2024, bà Phan Thị Quyên trình bày: Bà là hàng xóm cạnh nhà bà Nhung, bà không được chứng kiến việc bà Nhung sang nhà bà Quy lấy rượu và lấy bắp cải. Bà không biết việc bà Nhung vay tiền bà Quy, lấy 100 chai rượu trắng, 1200 cây cải bắp và việc trâu ăn ngô. Bà nhớ có thời điểm bà Nhung cũng nấu rượu nhưng thời gian cụ thể bà không nhớ.
Trong quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 26/6/2024, ông Đặng Anh Tài trình bày: Ông là công an viên của thôn Nà Cúm cũ (nay là Nà Báng). Ông không nhớ thời điểm công tác. Ông không biết việc vay mượn giữa ông Thời, bà Quy và bà Nhung. Ông nhớ sự việc tranh chấp này đã được công an thị trấn Đông Khê giải quyết và ông được gọi lên tham dự cho đủ thành phần với tư cách là công an viên của xóm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Bế Văn Bắc trình bày:
Bà Nông Thị Quy, ông Hoàng Văn Thời yêu cầu bà Hoàng Thị Nhung phải trả tổng số tiền 33.800.000,đ (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng) cụ thể các khoản sau: Số tiền vay ngày 26/10/1996 50.000,đ (năm mươi nghìn đồng) quy ra hiện nay là 17.000.000,đ (nguồn gốc là tiền bán lợn 200kg); số tiền mua rượu chưa trả từ năm 1998 - năm 2004 số lượng 100 chai x 8.000,đ = 800.000,₫ (tám trăm nghìn đồng); số cây bắp cải năm 2007 bà Nhung lấy số lượng 1000 cây x 15.000,đ = 15.000.000,đ (mười lăm triệu đồng); số tiền năm 2009, trâu bà Nhung ăn ngô 1.000.000,đ (một triệu đồng). Các khoản vay trên do tin tưởng vào lời hứa bà Nhung sẽ trả nên bà Quy chỉ ghi bên cạnh tủ gỗ cụ thể từng khoản vay, số tiền vay, thời gian vay.
Thứ nhất, các khoản vay trong đơn khởi kiện mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tuy không có giấy tờ cũng như không có ai chứng kiến nhưng đã được nguyên đơn ghi chi tiết, cụ thể từng khoản vay, thời gian vay, số tiền vay vào mặt bên cạnh tủ gỗ (có biên bản thẩm định tại chỗ ngày 06/8/2024). Do nhận thức đơn giản và là quan hệ tình làng nghĩa xóm tin tưởng vào lời hứa của bị đơn sẽ trả các khoản tiền trên nên nguyên đơn không lập thành văn bản và cũng không nhờ người chứng kiến, những vùng nông thôn, dân trí, trình độ văn hoá chưa cao nên việc cho nhau vay, mượn thông thường không lập thành văn bản.
Thứ hai, do trong thời gian khá lâu bị đơn không trả các khoản vay như bị đơn đã hứa, nguyên đơn đã khiếu nại đến chính quyền thôn Nà Cúm (nay là thôn Nà Báng) thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng yêu cầu bị đơn trả các khoản vay nên ngày 30/8/2017 thôn Nà Cúm đã tổ chức hoà giải với nhiều thành phần tham dự tuy nhiên hoà giải không thành. Điều này thể hiện nguyên đơn không từ bỏ quyền đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
Thứ ba, để thực hiện quyền hợp pháp của mình đối với tài sản đã bị bị đơn xâm phạm trong một thời gian dài, căn cứ khoản 2 Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn các khoản đã vay.
Từ những phân tích đánh giá trên, căn cứ khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 và căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình hỏi tại phiên toà. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn các khoản đã vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH thì nguyên đơn thuộc đối tượng được miễn án phí dân sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí dân sự cho nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Hoàng Thị Diệp Hảo trình bày:
Thứ nhất, về số tiền bà Quy cho rằng bà Nhung vay 50.000,₫ (năm mươi nghìn đồng) thời điểm năm 1996 quy tại thời điểm hiện tại là 17.000.000,đ (mười bảy triệu đồng). Việc cho vay giữa nguyên đơn (bà Quy) và bị đơn (bà Nhung) là sự việc mà chỉ có nguyên đơn xác nhận, bị đơn không công nhận có sự việc vay mượn giữa hai bên. Cuộc họp hòa giải tại xóm Nà Báng ngày 30/8/2017 hòa giải việc bà Quy yêu cầu bà Nhung trả tiền vay nợ. Cả hai bên đều xác nhận có buổi hòa giải nhưng không thành. Kết quả cuộc họp kết luận bà Quy không có căn cứ và giấy tờ nên không giải quyết được. Tại biên bản hòa giải ngày 26/6/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Thạch An ghi nhận ý kiến của bà Quy là "Khi tiến hành hòa giải có lập biên bản nhưng tôi không được giữ và không biết ai là người giữ biên bản", không nhắc đến việc bà có được kí vào biên bản hòa giải tại xóm vào thời điểm đó không. Bà Nhung cũng có ý kiến tại buổi hòa giải diễn ra tại Tòa án là "Kết quả buổi hòa giải là do không có căn cứ, giấy tờ nên có lập biên bản nhưng tôi không được ký biên bản hòa giải". Hiện tại, bà Quy không cung cấp được chứng cứ chứng minh (biên bản hòa giải ngày 30/8/2017). Đối với chiếc tủ gỗ có chữ viết của bà Quy ghi nội dung cho rằng bà Nhung vay tiền vào thời điểm năm 1996. Tại biên bản thẩm định tại chỗ xác nhận chỉ có chữ viết bà Quy, không có chữ của ai khác. Việc bà Quy thực hiện không có bất cứ đề nghị nào về mặt thủ tục pháp lý (như viết hợp đồng có công chứng hoặt ít ra hợp đồng vay nợ có nhân chứng...). Lời khai của những người làm chứng ngày 28/8/2024 gồm: Nguyễn Ngọc Bội, Đinh Công Hoan, Hoàng Thị Phỏ, Triệu Thị Liên, Ngọc Văn Sè đều khai với nội dung: Kết quả buổi hòa giải ngày 30/8/2017 là không có căn cứ về việc bà Nhung vay số tiền 500.000 đồng, lấy 100 chai rượu trắng, 1.200 cây bắp cải, trâu ăn ngô nhà bà Quy.
Thứ hai, về yêu cầu bà Nhung trả số tiền 16.800.000,đ (mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Bà Quy cho rằng từ năm 1998 đến năm 2004 bà Nhung lấy rượu nhà bà tổng số 100 chai. Năm 2007, bà Nhung lấy 1000 cây bắp cải nhà bà đi bán và trâu ăn ngô với số lượng 01 túi (01kg) ngô giống. Những người là hàng xóm của cả hai bên (bà Nông Thị Viên, ông Ngọc Văn Sè, bà Phan Thị Quyên) đều xác nhận tại biên bản lấy lời khai người làm chứng nội dung không biết việc bà Nhung vay tiền bà Quy, không chứng kiến việc bà Nhung lấy 100 chai rượu trắng, 1000 cây bắp cải và việc trâu ăn ngô nhà bà Quy. Việc gia đình bà Nhung cũng nấu rượu đi bán đã được bà Viên xác nhận. Đây là một trong những căn cứ chứng minh khách quan nhất bà Quy không có chứng cứ chứng minh đối với các yêu cầu trên của bà từ việc lấy rượu, bắp cải đi bán. Thời điểm năm 2009 gia đình bà Nhung mới mua trâu và bà Quy cho rằng năm 2007 trâu nhà bà Nhung ăn ngô nhà bà là bất nhất, bà Quy cũng không có chứng cứ chứng minh về vấn đề này. Như vậy, trình bày của vợ chồng bà Quy là không đủ cơ sở để được chấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Vụ án đã được hoà giải nhưng không thành.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nông Thị Quy, ông Hoàng Văn Thời (địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) đối với bà Hoàng Thị Nhung (địa chỉ: Nà Báng, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) yêu cầu trả lại số tiền 33.800.000,đ (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/10/2024 nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy có đơn kháng cáo không nhất trí với toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét yêu cầu bị đơn Hoàng Thị Nhung trả lại số tiền 33.800.000,đ (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng) cho nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm.
Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn không nhất trí với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị HĐXX phúc thẩm bác kháng cáo và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ cũng như qua phần tranh luận tại phiên tòa, xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập và giao nộp chứng cứ và hòa giải, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy nộp trong thời hạn luật định, thuộc trường hợp được miễn nộp án phí phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo:
Nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy kháng cáo với nội dung: Đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét yêu cầu bị đơn Hoàng Thị Nhung trả lại số tiền 33.800.000,đ (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng) cho nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy do đã vay tiền mặt và lấy tài sản của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Đối với số tiền 50.000,₫ (năm mươi nghìn đồng) bà Quy cho rằng bà Nhung vay thời điểm năm 1996 quy đổi tại thời điểm năm 2017 là 17.000.000,đ (mười bảy triệu đồng). Việc cho vay giữa nguyên đơn và bị đơn là sự việc mà chỉ có nguyên đơn xác nhận, bị đơn không công nhận có sự việc vay mượn giữa hai bên. Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn trình bày việc vay mượn này chỉ có nguyên đơn và bị đơn giao dịch với nhau, ngoài ra không có ai biết và nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu chứng minh việc vay mượn tiền giữa hai bên. Do đó không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.
Đối với nội dung kháng cáo, yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền rượu 100 chai tương ứng mỗi chai 8.000,đ ( tám nghìn đồng) tổng cộng là 800.000,đ (tám trăm nghìn đồng): Nguyên đơn cho rằng số rượu này bà Nhung, ông Lý (chồng bà Nhung), bà Sáy (mẹ chồng bà Nhung đã chết) lấy của nhà bà từ năm 1998 đến năm 2004. Tuy nhiên, ông Lý xác nhận năm 1998 đến năm 2004, ông không được đến nhà bà Quy lấy rượu, bởi thời điểm đó gia đình bị đơn cũng nấu rượu đi bán, sự việc này cũng được bà Phan Thị Quyên và bà Nông Thị Viên xác nhận. Ngoài việc nguyên đơn tự ghi vào cánh tủ bằng than củi để tự theo dõi thì nguyên đơn cũng không có tài liệu nào để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo này nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn trình bày yêu cầu bị đơn trả lại giá trị số lượng cải bắp là 1000 cây, mỗi cây trị giá là 15.000.000,đ (mười lăm triệu đồng), tuy nhiên nguyên đơn khẳng định không nhìn thấy bị đơn lấy bắp cải nhà bà mà chỉ thấy bà Nhung đi bán bắp cải. Nguyên đơn cho rằng bà Cắm (đã chết) là người trồng rau bên cạnh ruộng nhà bà bảo bà Nhung lấy bắp cải của bà. Qua xác minh biết được bà Triệu Thị Cắm đã chết năm 2013 do vậy Toà án không thể tiến hành xác minh nội dung này với bà Cắm, Hội đồng xét xử xét thấy đây chỉ là những lời trình bày của nguyên đơn, nguyên đơn không có tài liệu nào chứng minh đối với yêu cầu này, nên không có căn cứ để chấp nhận.
Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 1.000.000,đ (một triệu đồng) tiền thiệt hại do trâu của bị đơn ăn ngô của nguyên đơn. Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn trình bày bà không được chứng kiến trực tiếp việc trâu nhà bị đơn ăn ngô của nhà bà, mà do ông Ngọc Văn Sè là người chứng kiến việc này rồi nói lại với nguyên đơn, ông Sè chỉ nói là trâu ăn ngô mà không nói cụ thể là ăn ngô tại vị trí nào. Khi bà tìm gặp bà Nhung thì bà Nhung tự nhận là trâu nhà bà Nhung ăn Ngô của bà. Qua xác minh ông Sè cũng xác nhận ông không được chứng kiến việc năm 2002 trâu nhà bà Nhung ăn cây ngô của nhà bà Quy, tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn cũng khẳng định thời điểm đó gia đình nhà bị đơn chưa có trâu, nên không thể khẳng định trâu nhà bà ăn ngô của nhà bà Quy, ông Thời được, nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu nào để chứng minh nội dung kháng cáo này, do đó hội đồng xét xử cũng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Đối với chiếc tủ gỗ ghi nội dung việc vay mượn cũng như lấy các tài sản bà Quy đang yêu cầu qua xem xét tại chỗ xác định được như sau: “T2 giờ 26/10 âm Năm 1996 chị NHUNG NỢ ST Là 50 NG SDiệu 1998 đi đến 2004 L1000 SDau Là 2007/11 đến / giêng CL 1200C 1000 CDL/”. Chữ viết được viết trên mặt cạnh phía bên trái của tủ gỗ (chiều cao 116cm, chiều ngang 38cm); trên tủ gỗ chỉ có chữ viết của bà Quy không có chữ của ai khác. Nội dung trên tủ gỗ không thể hiện rõ việc vay mượn cũng như mỗi lần bà Nhung lấy tài sản của bà Quy như bà Quy trình bày. Mặt khác, bà Quy cũng khẳng định trên tủ này chỉ có duy nhất chữ viết của bà Quy (viết bằng than củi) không có chữ của ai khác và chữ viết này không phải viết cùng một thời điểm, bà Nhung lấy lúc nào bà viết lúc đó.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận. Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tại phiên toà phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 BLTTDS; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Văn Thời, Nông Thị Quy.
- Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Hoàng Văn Thời, bà Nông Thị Quy được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như |
Bản án số 24/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 24/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
