TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/DS-PT Ngày 09 - 4 - 2025 “ V/v tranh chấp đòi lại tài sản” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Thanh
Các Thẩm phán: Ông Trần Hưng Bính
Bà Trương Thị Đào Vi
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ánh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham dự phiên toà: Bà Vũ Thị Liên Hoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLPT- DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc: “ Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 51/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1952; địa chỉ: 8 khu tập thể X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); vắng mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Minh H, sinh năm:1984; Địa chỉ: 8 Khu tập thể X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1982. Nơi đăng ký thường trú: 32/210 P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); địa chỉ liên lạc: 1 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Phước H1, sinh năm: 1963; Địa chỉ: 1 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Nguyễn Thế A, sinh năm: 1984; Địa chỉ: 6 H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); vắng mặt tại phiên tòa.
+ Bà Ngô Quốc Kiều H2, sinh năm: 1962; Địa chỉ: C C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm: 1961; Địa chỉ: C C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); có mặt tại phiên tòa.
+ Chị Nguyễn Phước Hương G, sinh năm: 2003; Địa chỉ: 1 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); vắng mặt tại phiên tòa.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 29-01-2024 quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vũ Thị Minh H trình bày:
Thửa đất diện tích 97,1m² và ngôi nhà trên đất toạ lạc tại 0 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế được Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp cho bà Ngô Quốc Kiều H2 và ông Nguyễn Ngọc T1 theo GCNQSD đất số AE 828254 ngày 25/4/2007.
Ngày 17/11/2021 bà H2 - ông T1 đã chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Nguyễn Thế A; tiếp đó đến ngày 21/12/2022 ông Thế A chuyển nhượng nhà đất này cho vợ chồng ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D. Việc chuyển nhượng nhà đất cho ông T, bà D đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H xác nhận biến động vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 21/12/2022.
Năm 2017, bà Ngô Quốc Kiều H2 đã ký hợp đồng cho bà Nguyễn Thị Hồng P thuê nhà, đất trên với thời hạn 05 năm (từ 10/12/2017 đến 10/12/2022). Khi chuyển nhượng nhà, đất cho ông Nguyễn Thế A, bà H2 đã bàn giao cho ông Thế A tiếp tục hợp đồng thuê mặt bằng với bà P cho đến khi hết hạn Hợp đồng thuê vào ngày 10/12/2022.
Do vậy, mặc dù ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D đã đứng tên sử dụng, sở hữu nhà đất từ ngày 21/12/2022, ông bà vẫn đồng ý để ông Nguyễn Thế A xử lý ổn thỏa việc thuê mặt bằng giữa các bên để bàn giao nhà đất cho ông bà vào ngày 01/01/2023, nhưng cho đến nay, thời hạn thuê nhà làm địa điểm kinh doanh giữa bà Nguyễn Thị Hồng P và bà Ngô Quốc Kiều H2 đã hết, ông T bà D đã tạo điều kiện về thời gian nhưng vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Phước H1 vẫn không đồng ý giao lại tài sản. Nay ông T bà D cần lấy lại nhà đất sớm nhất để xây dựng lại nhà ở ổn định cho cả gia đình do chỗ ở của ông bà hiện tại phải bàn giao cho Nhà nước để giải phóng mặt bằng.
Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Phước H1 trả lại nhà đất tại 0 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2 như sau:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà P xác nhận việc bà có thuê căn nhà của bà Ngô Quốc Kiều H2 tại 0 P để kinh doanh, thời hạn thuê nhà là 05 năm, từ 10/12/2017 đến 10/12/2022 theo Hợp đồng thuê nhà ở ngày 10/12/2017 là đúng. Sau khi thuê nhà, bà cùng chồng là Nguyễn Phước H1 kinh doanh hàng ăn và sinh sống ở đó. Đến tháng 6/2021 khi chưa hết thời hạn thuê nhà theo hợp đồng thì bà Ngô Quốc Kiều H2 có ý định chuyển nhượng nhà đất trên cho người khác nên có đến gặp vợ chồng bà thông báo lấy lại nhà, buộc vợ chồng bà dừng kinh doanh và thỏa thuận bồi thường do chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn nhưng không thỏa đáng nên vợ chồng bà không đồng ý. Sau đó bà H2 vẫn chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Nguyễn Thế A, ông Thế A cũng có gặp vợ chồng bà thương lượng để lấy lại nhà đất nhưng bà không đồng ý. Một thời gian sau, ông Nguyễn Thế A lại chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D mà vợ chồng bà không được biết. Vợ chồng bà tuy vẫn ở tại nhà đất tranh chấp từ 12/2017 cho đến nay nhưng phải dừng kinh doanh từ tháng 6/2021. Bà Ngô Quốc Kiều H2 đã vi phạm hợp đồng thuê nhà đã ký kết với vợ chồng bà, chưa thanh lý hợp đồng thuê nhà để giải quyết ổn thỏa những vấn đề phát sinh, không báo cho vợ chồng bà biết việc bà chuyển nhượng nhà đất cho người khác. Vì vậy, bà không đồng ý trả lại nhà đất cho nguyên đơn. Bà chỉ đồng ý trả lại nhà đất cho nguyên đơn khi bà Ngô Quốc Kiều H2 giải quyết ổn thỏa các chi phí sửa chữa nhà và các khoản thiệt hại cho vợ chồng bà.
Yêu cầu độc lập của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2:
Việc bà Ngô Quốc Kiều H2 đột ngột thông báo lấy lại nhà đất cho thuê từ tháng 6/2021 (trước khi hết thời hạn thỏa thuận tại hợp đồng 18 tháng) khiến vợ chồng bà phải dừng kinh doanh và chịu nhiều thiệt hại. Hơn nữa, khi thuê nhà bà ký kết hợp đồng thuê với bà H2 nên bà H2 phải có trách nhiệm giải quyết các vấn đề phát sinh đối với bà. Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 17/4/2024, bà Nguyễn Thị Hồng P yêu cầu bà Ngô Quốc Kiều H2 phải thanh toán lại cho bà các khoản sau đây:
1. Chi phí sữa chữa nhà thuê: Sau khi thuê nhà bà đã làm mới 01 gác lửng, thay tường gạch ốp lam ri, thay gạch ốp nền, thay cửa cuốn bằng sắt, làm mới trần la phông thạch cao, thay mái hiên, khung sắt mái lợp tôn và thay ngói nhà chính. Chi phí cho các khoản này là: 204.707.000 đồng.
Đối với yêu cầu này, mặc dù trong Hợp đồng thuê nhà lập ngày 10/12/2017 không có thỏa thuận, nhưng sau khi thuê nhà bà đã trao đổi với bà H2 và được bà H2 thống nhất cho sửa chữa. Bà không trao đổi với bà H2 cụ thể sẽ nâng cấp, sửa chữa những hạng mục gì, nhưng do cần thiết để phục vụ nhu cầu kinh doanh hàng ăn, vợ chồng bà đã sửa chữa các hạng mục nêu trên. Thời điểm đó bà cũng không yêu cầu bà H2 về sau phải thanh toán lại chi phi sửa chữa các hạng mục nêu trên mà tự chịu. Nay do bà H2 vi phạm hợp đồng thuê nhà, chuyển nhượng nhà đất cho người khác khi chưa hết hạn hợp đồng thuê làm ảnh hưởng quyền lợi của bà nên bà mới yêu cầu bà H2 thanh toán khoản này.
Bà đồng ý với Kết quả định giá các hạng mục do bà sửa chữa được Hội đồng định giá tài sản kết luận vào ngày 05/6/2024; tuy nhiên, bà vẫn yêu cầu bà H2 thanh toán cho bà 204.707.000 đồng là số tiền thực tế bà đã bỏ ra để sửa chữa nhà chứ không chấp nhận việc khấu hao giá trị tài sản bà đã sửa chữa. Riêng chi phí thay mái hiên, khung sắt mái hợp tôn và thay ngói nhà chính do Hội đồng định giá không tiến hành định giá được, nguyên đơn đã hỗ trợ cho bà số tiền 10.000.000 đồng nên bà không yêu cầu định giá đối với các hạng mục này và xin rút yêu cầu giải quyết việc thanh toán các hạng mục trên tương ứng với số tiền 10.000.000 đồng. Do vậy, số tiền chi phí sửa nhà mà bà H2 còn phải thanh toán cho bà là 194.707.000 đồng (204.707.000 đồng - 10.000.000 đồng).
2. Tiền mất thu nhập từ kinh doanh trong 18 tháng (từ 6/2021 đến 12/2022) do bà Ngô Quốc Kiều H2 yêu cầu bà dừng kinh doanh để chuyển nhượng nhà đất cho người khác nên bà phải dừng kinh doanh: 447.000.000 đồng (24.833.333đồng/tháng x 18 tháng).
3. Tiền bị đơn bỏ ra mua thiết bị, vật dụng để kinh doanh, gồm: bàn ghế, ly tách, chén bát, tủ lạnh, tủ đông, bếp nướng, lò vi sóng, bếp điện từ, bếp hồng ngoại, dao, muỗng, nĩa, làm bảng hiệu là 100.000.000 đồng.
4. 06 tháng tiền thuê nhà mà bị đơn đã trả trước cho bà Ngô Quốc Kiều H2 (từ tháng 6/2021 đến 12/2021): 06 tháng x 3.000.000 đồng/tháng = 18.000.000 đồng. Tổng cộng: 759. 707.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước H1 trình bày: Ông thống nhất như ý kiến của bị đơn trình bày, không đồng ý trả lại nhà đất tại 0 P, phường A, thành phố H theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà chỉ đồng ý trả lại nhà, đất cho nguyên đơn khi bà H2 giải quyết ổn thỏa các chi phí sửa chữa nhà và các khoản thiệt hại cho vợ chồng ông. Ông thống nhất với yêu cầu độc lập của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2.
Tại lời khai các ngày 11/3/2024, 10/5/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2 trình bày: Nguyên thửa đất diện tích 97,1m² và ngôi nhà trên đất toạ lạc tại 0 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế được Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp cho vợ chồng bà là Ngô Quốc Kiều H2 và Nguyễn Ngọc T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 828254 ngày 25/4/2007. Ngày 10/12/2017, vợ chồng bà cho bà Nguyễn Thị Hồng P thuê ngôi nhà trên để kinh doanh. Hợp đồng thuê nhà giữa bà và bà Nguyễn Thị Hồng P được ký kết vào ngày 10/12/2017, thời hạn thuê là 05 năm, giá cho thuê mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Bà P đã trả tiền thuê nhà cho bà đến tháng 12/2021.
Vào tháng 6/2021, khi bà có ý định chuyển nhượng nhà đất trên, bà đã đến gặp bà Nguyễn Thị Hồng P để trao đổi và đặt vấn đề sẽ bồi thường cho bà P một khoản tiền nếu bà P đồng ý trả nhà cho bà trước thời hạn thuê để chuyển nhượng nhà đất cho người khác nhưng bà P không đồng ý.
Tháng 11/2021, để giải quyết việc gia đình, vợ chồng bà đã chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Nguyễn Thế A, đồng thời bà cũng lập hợp đồng bàn giao lại toàn bộ nghĩa vụ cho thuê nhà đất cho ông Thế A theo Hợp đồng bàn giao “Hợp đồng cho thuê mặt bằng làm địa điểm kinh doanh” lập ngày 30/11/2021. Việc này bà đã trực tiếp báo cho bà P biết và thực tế là bị đơn vẫn được tiếp tục ở tại nhà đất trên cho đến nay.
Bà được biết vào tháng 12/2022, ông Nguyễn Thế A đã chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Nguyễn Quốc T - bà Nguyễn Thị D. Vì vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà P trả lại nhà đất tại 0 P, phường A, thành phố H thì bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu độc lập của bị đơn: Bà không đồng ý với yêu cầu nào của bị đơn, bởi lẽ: Việc bị đơn cho rằng bà vi phạm hợp đồng thuê nhà để yêu cầu bà bồi thường là không đúng. Trước khi chuyển nhượng nhà đất, bà có thỏa thuận để bồi thường cho bà P một khoản tiền nếu bà P trả nhà, đất cho bà trước thời hạn thuê nhưng bà P không đồng ý nên bà vẫn để cho bà P vẫn tiếp tục hợp đồng.
Về yêu cầu thanh toán chi phí sửa chữa nhà thuê: Bà xác nhận các hạng mục mà bị đơn đã sửa chữa nhà là các hạng mục đã định giá được tại Biên bản định giá ngày 05/6/2024. Bà cũng đồng ý về kết quả định giá của Hội đồng định giá với các hạng mục nêu trên. Tuy nhiên, về việc sửa chữa lại nhà, giữa bà và bà P chỉ trao đổi bằng miệng, không có thỏa thuận việc cho phép sửa chữa nhà bằng văn bản, bị đơn không nói cụ thể với bà sẽ sửa chữa nâng cấp các hạng mục gì, bà nghĩ là bị đơn chỉ sơn sửa lại nhà chứ không biết bị đơn đã sửa nhiều hạng mục như vậy. Thời điểm sửa chữa nhà, bị đơn cũng không yêu cầu bà phải thanh toán chi phí sửa chữa nâng cấp nhà mà tự nguyện chịu. Do đó, bà không đồng ý thanh toán cho bị đơn khoản này. Đối với các khoản khác mà bị đơn có yêu cầu, bà cũng không đồng ý vì không hợp lý, không liên quan gì đến bà.
Ngoài ra, khi vợ chồng bà chuyển nhượng toàn bộ nhà đất cho ông Nguyễn Thế A, bà đã bàn giao quyền và nghĩa vụ cho ông Thế A theo “Hợp đồng cho thuê mặt bằng” ngày 30/11/2021 nên vợ chồng bà cũng không có nghĩa vụ gì với bị đơn nữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T1 trình bày: Ông thống nhất với ý kiến của bà Ngô Quốc Kiều H2 về thời hạn cho thuê nhà, giá cho thuê, quá trình cho thuê và thời điểm vợ chồng ông chuyển nhượng nhà đất nói trên cho ông Nguyễn Thế A. Ông cũng thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà H2 đã trình bày ở trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, vì ông đã chuyển nhượng nhà đất cho người khác nên không còn liên quan. Đối với yêu cầu độc lập của bị đơn, ông không đồng ý và đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thế A trình bày: Ngày 17/11/2021, ông nhận chuyển nhượng nhà đất tại 0 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế từ ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Ngô Quốc Kiều H2. Khi nhận chuyển nhượng, ngôi nhà đang được bà Nguyễn Thị Hồng P thuê của bà H2 cho đến ngày 10/12/2022 mới hết thời hạn thuê nên ông đã thống nhất với bà H2 sẽ để cho bà P tiếp tục thuê nhà cho đến hết hạn Hợp đồng. Ông đã nhận nghĩa vụ chuyển tiếp từ bà H2 liên quan đến việc cho bà P thuê nhà theo Hợp đồng bàn giao “Hợp đồng cho thuê mặt bằng làm địa điểm kinh doanh” lập ngày 30/11/2021. Đến ngày 21/12/2022, khi bà P đã hết thời hạn thuê nhà, ông đã chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D, sau đó ông nhiều lần yêu cầu bà P trả lại nhà đất để bàn giao lại cho ông T, bà D nhưng bà P cùng chồng là ông Nguyễn Phước H1 vẫn không hợp tác. Tháng 4/2023, ông đã gửi đơn đến Công an phường A, thành phố H đề nghị can thiệp để vợ chồng bà P trả lại mặt bằng nhưng vợ chồng bà P vẫn không hợp tác. Hiện nhà đất này do ông T, bà D là chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp nên ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà D; đề nghị Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D, bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Phước Hương G trình bày:
Chị là con của bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Phước H1. Hiện chị cùng bà P, ông H1 đang sinh sống tại 0 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngôi nhà ở địa chỉ trên do mẹ chị thuê của người khác. Hiện chị đang sống phụ thuộc vào cha mẹ nên không có yêu cầu gì. Chị thống nhất với ý kiến của bà P và ông H1, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị đồng ý với yêu cầu độc lập của bị đơn. Ngoài ra, chị không có ý kiến gì khác.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 05/6/2024, bà Ngô Quốc Kiều H2, ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị Hồng P, ông Nguyễn Phước H1 xác nhận các công trình, hạng mục do bị đơn xây dựng, sửa chữa trong quá trình thuê nhà gồm 01 gác lửng cấp 4 có diện tích 30m², tường gạch ốp lam ri, gạch ốp nền, cửa cuốn bằng sắt, la phông thạch cao. Tổng giá trị còn lại của các hạng mục trên theo kết luận của Hội đồng định giá là 52.419.670 đồng.
Riêng chi phí thay mái hiên, khung sắt mái lợp tôn và thay ngói nhà chính do Hội đồng định giá không tiến hành định giá được. Tại phiên hòa giải ngày 15/8/2024, nguyên đơn đã tự nguyện hỗ trợ khoản chi phí này cho bị đơn số tiền 10.000.000 đồng nên bị đơn không yêu cầu định giá đối với các hạng mục này và xin rút yêu cầu giải quyết buộc bà H2 thanh toán các hạng mục trên tương ứng với số tiền 10.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H) đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 5 Điều 72; Điều 202; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 165; Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Áp dụng: Điều 158; Điều 166; Điều 189; Điều 472, 482 Bộ luật dân sự; khoản 5, khoản 7 Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Điều 10 Luật nhà ở năm 2014; Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T - bà Nguyễn Thị D.
- Buộc bà Nguyễn Thị Hồng P, ông Nguyễn Phước H1 và chị Nguyễn Phước Hương G có nghĩa vụ bàn giao cho ông Nguyễn Quốc T - bà Nguyễn Thị D toàn bộ diện tích nhà đất tại 0 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); vắng mặt tại phiên tòa.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bị đơn đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2 về yêu cầu thanh toán một số hạng mục mà bị đơn đã sửa chữa nhà thuê gồm: chi phí thay mái hiên, khung sắt mái lợp tôn và thay ngói nhà chính, tương ứng với số tiền 10.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bị đơn đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2 về yêu cầu thanh toán chi phí bị đơn đã bỏ ra để sửa chữa nhà thuê gồm: làm 01 gác lửng nhà cấp 4, thay tường gạch ốp lam ri, thay gạch ốp nền, thay cửa cuốn bằng sắt, đóng trần la phông thạch cao; tiền mất thu nhập từ kinh doanh từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2022; T2 bị đơn bỏ ra mua sắm thiết bị, vật dụng để kinh doanh và 06 tháng tiền thuê nhà mà bị đơn đã trả trước cho bà Ngô Quốc Kiều H2.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện và bị đơn giữ nguyên đơn kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2 và ông Nguyễn Ngọc T1 giữ nguyên ý kiến tại cấp sơ thẩm; các đương sự không thỏa thuận được với nhau nội dung giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
-Về tố tụng: Ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Các đương sự được đảm bảo để thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật.
- Về nội dung kháng cáo của bị đơn: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P là trong thời hạn luật định và đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn không cung cấp được cho Tòa án các tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thị Hồng P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí: Cần buộc bị đơn phải chịu theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Ngày 30/10/2024, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H) xét xử sơ thẩm vụ án về việc “ Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Ngày 11/11/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P đã có đơn kháng cáo kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Do đó, kháng cáo của bị đơn bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P là hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án dân sự sơ thẩm hoặc sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của bị đơn; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1]. Xét nguồn gốc và quá trình đăng ký kê khai, sử dụng ngôi nhà và đất đang có tranh chấp, thấy rằng:
Nguồn gốc nhà và đất tại 1 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế được Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số AE 828254 cho ông, bà Nguyễn Ngọc T1 - N vào ngày 25/4/2007.
Ngày 17/11/2021 ông T1 - bà H2 chuyển nhượng nhà đất nói trên cho ông Nguyễn Thế A.
Ngày 21/12/2022, ông Nguyễn Thế A tiếp tục chuyển nhượng nhà, đất trên cho nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T - bà Nguyễn Thị D theo hợp đồng chuyển nhượng số 3500, được Văn phòng C chứng thực ngày 30/8/2022.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H đã cập nhật biến động vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số AE 828254 đứng tên ông Nguyễn Quốc T - bà Nguyễn Thị D vào ngày 21/12/2022 là đúng quy định tại điểm a khoản 4 Điều 95 Luật đất đai 2013 và Điều 9 Luật nhà ở năm 2014.
Tại công văn số 7109/CNVPĐKĐĐ ngày 17/7/2014 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H xác nhận từ ngày 21/12/2022 cho đến nay không tiếp nhận hồ sơ nào khác liên quan đến việc đăng ký biến động nhà đất nói trên. Như vậy, ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D là chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp đối với nhà, đất tại 1 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H).
[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D là chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp đối với nhà, đất tại 1 P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự thì ông T, bà D được quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu.
Ngày 10/12/2017, bà Ngô Quốc Kiều H2 cho bà Nguyễn Thị Hồng P thuê ngôi nhà nói trên để kinh doanh, thời hạn thuê nhà là 05 năm, kể từ 10/12/2017 đến 10/12/2022.
Sau khi hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất được công chứng theo qui định, ông T, bà D đã được cập nhật biến động đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số AE 828254 vào ngày 21/12/2022; thời điểm này thời hạn hợp đồng thuê nhà giữa bà H2 với bà P đã hết nên không phát sinh nghĩa vụ gì theo hợp đồng thuê nhà giữa bà H2 với bà P nữa cũng như giữa ông T, bà D với bị đơn.
Hiện nay, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P cùng chồng con là ông Nguyễn Phước H1, chị Nguyễn Phước Hương G vẫn đang sinh sống và sử dụng tài sản là nhà, đất nói trên nhưng không được chủ sở hữu chấp nhận là trái quy định pháp luật. Do đó, ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Phước H1 trả lại nhà đất nói trên là có căn cứ theo khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự.
[2.3]. Xét yêu cầu độc lập của bị đơn đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2:
Lý do bà P yêu cầu bà H2 phải thanh toán cho bà số tiền 769.707.000 đồng là do bà H2 vi phạm Hợp đồng thuê nhà ngày 10/12/2017, chưa thanh lý hợp đồng thuê nhà để giải quyết ổn thỏa những vấn đề phát sinh, không báo cho vợ chồng bà biết việc bà chuyển nhượng nhà đất cho người khác. Các khoản bị đơn yêu cầu, gồm:
- Chi phí sữa chữa nhà thuê: 204.707.000 đồng.
- Tiền mất thu nhập từ kinh doanh trong 18 tháng (từ 6/2021 đến 12/2022) do bà Ngô Quốc Kiều H2 yêu cầu bà dừng kinh doanh để chuyển nhượng nhà đất cho người khác nên bà phải dừng kinh doanh: 447.000.000 đồng (24.833.333đồng/tháng x 18 tháng).
- Tiền bị đơn bỏ ra mua sắm thiết bị, vật dụng để kinh doanh, gồm: bàn ghế, ly tách, chén bát, tủ lạnh, tủ đông, bếp nướng, lò vi sóng, bếp điện từ, bếp hồng ngoại, dao, muỗng, nĩa, làm bảng hiệu là 100.000.000 đồng.
- 06 tháng tiền thuê nhà mà bị đơn đã trả trước cho bà Ngô Quốc Kiều H2 (từ tháng 6/2021 đến 12/2021): 06 tháng x 3.000.000 đồng/tháng = 18.000.000 đồng.
Tất cả các khoản bà P yêu cầu bà H2 phải bồi thường do xuất phát từ lỗi của bà H2. Qua tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.2.1]. Xét về lỗi và các nội dung chuyển quyền sở hữu nhà, đất của các bên:
Hợp đồng thuê nhà ngày 10/12/2017 được ký kết giữa bên cho thuê là bà Ngô Quốc Kiều H2 và bên thuê bà Nguyễn Thị Hồng P được hai bên thỏa thuận thời hạn thuê là 05 năm, từ ngày 10/12/2017 đến ngày 10/12/2022. Tuy nhiên, bà P cho rằng do chưa hết thời hạn thuê nhưng bà H2 đòi lại nhà nên bà không chấp nhận; đối với bà H2 do khó khăn nên cần phải bán nhà để giải quyết việc gia đình. Cả bà H2 và bà P đều thừa nhận vào tháng 6/2021, bà H2 có đến gặp bà P để thỏa thuận việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn và bà H2 sẽ bồi thường cho bà P khoản tiền 50.000.000 đồng nhưng không được bà P đồng ý. Tại khoản 2 Điều 6 của Hợp đồng thuê nhà làm địa điểm kinh doanh ngày 10/12/2021 giữa các bên, thể hiện:
“1.....
2. Trong trường hợp có phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện Hợp đồng này, hai bên chủ động bàn bạc giải quyết trên cơ sở thương lượng, đàm phán. Nếu hai bên không thỏa thuận được thì tranh chấp sẽ được giải quyết tại cơ quan thẩm quyền theo luật định” (bút lục số 40,41).
Theo thỏa thuận trên thì các bên đều có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình nhưng không ai thực hiện.
Như vậy, việc chấp dứt hợp đồng thuê nhà, đất trước thời hạn và lý do bán nhà, đất thì bà P đã được bà H2 thông báo trước theo qui định nhưng do bà P không đồng ý.
Mặt khác, trước khi bán nhà cho ông Nguyễn Thế A, bà H2 và ông A cũng đã thỏa thuận cho bà P tiếp tục sử dụng nhà, đất này để kinh doanh và bà H2 cũng đã chuyển cho ông A 50.000.000 đồng vì lý do chấm dứt hợp đồng trước thời hạn để bà P sử dụng nhà, đất đến hết thời hạn hợp đồng là ngày 10/12/2022. Số tiền này bà P cho rằng bà không được ông A thông báo nên bà không biết, tại cấp sơ thẩm và phiên tòa hôm nay bà cũng không có ý kiến gì; đối với bà H2 và ông A không có tranh chấp đối với khoản tiền này nên không có căn cứ xem xét.
Do không thỏa thuận được nội dung phát sinh hợp đồng nên ngày 17/11/2021 bà H2, ông T1 đã chuyển nhượng nhà, đất trên cho ông Nguyễn Thế A; mặc dù ông A là chủ sở hữu nhà mới nhưng ông đã thực hiện đúng thỏa thuận với bà H2, ông T1 về việc bảo đảm tiếp tục thực hiện đầy đủ thời hạn theo hợp đồng thuê nhà do bà Ngô Quốc Kiều H2 và bà Nguyễn Thị Hồng P đã ký kết trước đó, hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến việc ăn ở, kinh doanh của vợ chồng bà P, ông H1.
Như vậy, bà Ngô Quốc Kiều H2 và ông Nguyễn Thế A đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 133 Luật nhà ở năm 2014, đảm bảo quyền được tiếp tục thuê nhà cho bên thuê nhà là bà Nguyễn Thị Hồng P là hoàn toàn có thiện chí và đúng qui định pháp luật.
[2.2.2]. Sau khi nhận chuyển nhượng nhà, đất, ông Nguyễn Thế A vẫn tiếp tục để cho bà P thuê nhà theo nội dung nêu trên, trong quá trình bà P sử dụng, quản lý.
Khi bà P đã hết thời hạn thuê nhà theo hợp đồng là ngày 10/12/2022, ngày 21/12/2022 ông đã chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D. Sau đó, ông nhiều lần yêu cầu bà P trả lại nhà, đất để bàn giao lại cho ông T, bà D nhưng bà P cùng chồng là ông Nguyễn Phước H1 không hợp tác. Vì vậy, vào tháng 4/2023, ông đã gửi đơn đến Công an phường A, thành phố H đề nghị can thiệp để vợ chồng bà P trả lại mặt bằng nhưng vợ chồng bà P vẫn không hợp tác.
Thấy rằng, sau khi không được bà P thống nhất chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thuê nhà, bà H2 đã chuyển nhượng nhà, đất cho ông A, ông A tiếp tục chuyển nhượng nhà, đất này cho ông T, bà D thì vợ chồng bà P, ông H1 đều được thông tin nhưng không hợp tác. Đồng thời, trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng hoàn toàn không có phát sinh tranh chấp về hợp đồng thuê nhà theo qui định pháp luật. Do đó, việc bà P cho rằng bà H2 vi phạm hợp đồng thuê nhà là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2.3]. Về yêu cầu bồi thường 769.707.000 đồng của bị đơn đối với bà H2, thấy rằng:
- Đối với yêu cầu chi phí sửa chữa nhà thuê: 204.707.000 đồng; tại khoản 8 Điều 5 của Hợp đồng qui định, đối với Bên A: “Trong quá trình thuê nhà không được tự ý sửa chữa, thay đổi kết cấu và kiến trúc nhà” (bút lục số 41).
Quá trình tranh chấp các bên đều thừa nhận: Về việc sửa chữa lại nhà, giữa bà H2 và bà P chỉ trao đổi bằng miệng, không có thỏa thuận việc cho phép sửa chữa nhà bằng văn bản, bị đơn không nói cụ thể việc sửa chữa nâng cấp các hạng mục gì, không thông tin chi tiết cho bà H2 biết cụ thể. Thời điểm sửa chữa nhà, bị đơn cũng không yêu cầu bà phải thanh toán chi phí sửa chữa nâng cấp nhà mà tự nguyện chịu. Bị đơn cho rằng vì nhằm mục đích thuận lợi cho việc kinh doanh nên bà đã tự ý sửa chữa lớn những hạng mục này, tại phiên tòa cũng không có chứng cứ chứng minh để buộc bà H2 thanh toán, nên không có căn cứ chấp nhận.
- Đối với yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập từ kinh doanh trong 18 tháng (từ 6/2021 đến 12/2022) là: 447.000.000 đồng (24.833.333đồng/tháng x 18 tháng), xét thấy:
Kể từ thời điểm chuyển nhượng nhà giữa bà H2 với ông A cho đến nay, vợ chồng bà P thừa nhận khi kết thúc thời hạn thuê nhà theo hợp đồng và cho đến thời điểm hiện tại ông, bà vẫn đã và đang tiếp tục ăn ở, sinh hoạt tại nhà, đất này; không ai ngăn cản và không có chứng cứ chứng minh việc bà H2 hay ông A đã cản trở việc kinh doanh buôn bán của bà tại nhà, đất này của vợ chồng bà dẫn đến thiệt hại nên không có căn cứ xem xét, chấp nhận.
- Đối với yêu cầu bồi thường tiền bị đơn bỏ ra mua sắm thiết bị, vật dụng để kinh doanh, gồm: bàn ghế, ly tách, chén bát, tủ lạnh, tủ đông, bếp nướng, lò vi sóng, bếp điện từ, bếp hồng ngoại, dao, muỗng, nĩa, làm bảng hiệu là: 100.000.000 đồng, thấy rằng: Đây là vật dụng bà P mua sắm để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh hàng ăn uống; khi kết thúc việc kinh doanh tài sản này thuộc quyền sở hữu của bà, không có căn cứ xem xét để buộc bà H2 bồi thường.
- Đối với yêu cầu bồi thường 06 tháng tiền thuê nhà mà bị đơn đã trả trước cho bà Ngô Quốc Kiều H2 (từ tháng 6/2021 đến 12/2021): 06 tháng x 3.000.000 đồng/tháng = 18.000.000 đồng.
Như đã đánh giá nêu trên, không có căn cứ về việc bà H2, ông T1 có lỗi trong việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà, đất; mặc dù phát sinh việc thay đổi thời hạn thuê nhà nhưng vợ chồng bà P, ông H1 đã được bà H2, ông T1 tạo điều kiện để tiếp tục ăn ở, làm ăn sinh sống ổn định, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thuê nhà theo hợp đồng.
Hợp đồng thuê nhà đã kết thúc và chấm dứt ngày 10/12/2022 là theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 131 Luật nhà ở; các bên đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ tại hợp đồng thuê nhà nhưng bà P cố tình dây dưa không chịu thanh lý hợp đồng theo qui định. Bà P và ông H1 cũng đã thừa nhận hiện nay vẫn đang sử dụng nhà đất trên kể từ ngày 10/12/2022 (ngày kết thúc hợp đồng thuê nhà, đất) cho đến nay đã hơn hai năm nhưng vẫn không trả tiền thuê nhà cho ai với lý do vì không có ai đến thu tiền và do bà H2 không thanh toán các khoản tiền như bà đã nêu trên. Do đó, việc bà yêu cầu bà H2 trả lại số tiền thuê nhà bà đã trả trước 06 tháng là không có căn cứ.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Hồng P đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2 về việc buộc bà H2 phải bồi thường các khoản chi phí do chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn, tổng số tiền là: 769.707.000 đồng là không căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để có cơ sở xem xét, chấp nhận.
Do đó, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 308 để bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.000.000 đồng.
Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng khoản tiền này nên cần buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 3.000.000 đồng.
[4]. Về án phí:
[4.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Do yêu cầu được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí.
- Buộc bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng và 34.388.280 đồng án phí dân sự có giá ngạch do yêu cầu độc lập không được chấp nhận. Tổng cộng hai khoản là 34.688.280 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.394.140 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 003482 ngày 26/4/2024 Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 17.294.140 đồng, (Mười bảy triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi đồng chẵn).
[4.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0005631 ngày 25/11/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 24; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Áp dụng Điều 158; Điều 166; Điều 189; Điều 190; Điều 192; Điều 193; Điều 194; Điều 472, 482 Bộ luật dân sự; khoản 5, khoản 7 Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Điều 10 Luật nhà ở năm 2014. Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D.
- Buộc bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Phước H1 có nghĩa vụ phải bàn giao lại toàn bộ diện tích nhà, đất tại số A P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H) cho ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số AE 828254 ngày 25/4/2007, cập nhật biến động ngày 21/12/2022 đứng tên ông Nguyễn Quốc T, bà Nguyễn Thị D.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Quốc Kiều H2 về việc buộc bà H2 phải bồi thường các khoản chi phí do chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn, tổng số tiền là: 769.707.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu số tiền xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.000.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền này nên buộc bà Nguyễn Thị Hồng P phải trả lại cho ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng chẵn).
6. Về án phí:
6.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị D không phải chịu.
- - Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 34.688.280 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.394.140 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 003482 ngày 26/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H). Bà Nguyễn Thị Hồng P còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 17.294.000 đồng (Mười bảy triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng chẵn).
6.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0005631 ngày 25/11/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); bà P đã nộp đủ.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi Hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu kực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Thanh |
Bản án số 24/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 24/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
