|
TÒA ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST
Ngày 07/6/2024
V/v “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh và ông Nguyễn Văn Thanh.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- - Đại diện VKS nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 07/6/2024, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-DS ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Chị Phan Thị T1, sinh năm 1992 - (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- + Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985 - (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đình ghi ngày 28/8/2023 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Phan Thị T1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T2 kết hôn vào năm 2010 tại UBND xã Q. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống và làm ăn tại thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng về quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên anh T2 đã về T, xã Q, huyện L sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T2 không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T2.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Văn D, sinh ngày 26/11/2010, hiện tại con khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Nay vợ chồng ly hôn nguyện vọng của chị xin được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T2 đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Không có nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Trước phiên tòa hôm nay chị Phan Thị T1 có đơn xin vắng mặt.
+ Bị đơn anh Nguyễn Văn T2: Do anh Nguyễn Văn T2 không hợp tác nên không có lời khai. Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã đến tại địa phương và gia đình anh T2 để tiến hành niêm iết các loại tục tố tụng theo quy định của pháp luật đầy đủ, hợp lệ và đúng trình tự pháp luật. Tại phiên toà hôm nay anh T2 vắng mặt.
+ Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán xác định đúng mối quan hệ tranh chấp. Việc giao gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ cho VKS nghiên cứu đầy đủ, đúng quy định; HĐXX thực hiện đúng quy định của pháp luật;
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật; Bị đơn anh Nguyễn Văn T2 không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không hợp tác, không đến Tòa án để làm việc mặc dù đã được Tòa án giao đầy đủ các thủ tục tố tụng tại gia đình và địa phương theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị đơn anh T2 vẫn vắng mặt lần thứ hai.
- Về quan điểm đường lối giải quyết vụ án:
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị T1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn T2.
2. Con chung: Giao cho chị T1 nuôi con chung. Anh T2 được quyền thăm nom chăm sóc con chung.
3. Án phí: Chị T1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không.
XÉT THẤY
- Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và tiền tố tụng: Xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị T1 là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định. Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T2 đã được Tòa án tống đạt quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị T1 vắng mặt nhưng đã có đơn xin được xét xử vắng mặt, anh T2 vắng mặt lần thứ hai, do vậy HĐXX xử vắng mặt đương sự, căn cứ Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 26; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về căn cứ áp dụng pháp luật: Do các bên kết hôn với nhau đã đủ điều kiện kết hôn và đã có giấy chứng nhận kết hôn hợp pháp, do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân gia đình 2014 để giải quyết.
[4] Về nội dung vụ kiện:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T1 và anh Nguyễn Văn T2 kết hôn với nhau vào năm 2010 trên cơ sở hợp pháp và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện L. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng về quan điểm, vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ đó, hiện tại chị T1 vẫn sinh sống tại thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Anh T2 cố tình không hợp tác khi Tòa án giải quyết vụ án. Qua điều tra xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh T2 thể hiện anh T2 bỏ về sinh sống cùng mẹ đẻ từ đầu năm 2022, hiện tại anh T2 làm nghề lao động tự do, đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Q, thi thoảng anh T2 vẫn về thăm gia đình. Gia đình anh T2 được Tòa án tiến hành giao văn bản tố tụng và đều có thông báo cho anh T2, anh T2 có biết việc chị T1 có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh tại Tòa án. Tuy nhiên anh T2 cố tình không hợp tác, không đến Tòa án làm việc. Do vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh Nguyễn Văn T2.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Phan Thị T1 và anh Nguyễn Văn T2 đã trầm trọng, vợ chồng chị T1, anh T2 đã có thời gian sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, phía chị T1 làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, anh T2 cố tình không đến Tòa án để làm việc và cũng không gọi điện hoặc có thông tin gì với chị T1 nên mục đích của hôn nhân không còn đạt được. Do vậy cần giải quyết cho chị Phan Thị T1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn T2 là phù hợp với các Điều 51; Điều 56; Điều 58 luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Vợ chồng chị T1, anh T2 có 01 con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 26/11/2010, hiện tại cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang do chị T1 chăm sóc nuôi dưỡng. Nay vợ chồng ly hôn nguyện vọng của chị T1 xin được tiếp tục nuôi con chung và nguyện vọng của cháu D cũng xin được ở với mẹ. Do anh T2 không đến Tòa làm việc nên HĐXX không thể biết được quan điểm, nguyện vọng của anh T2 về việc nuôi con chung. Do vậy HĐXX xét để đảm bảo quyền lợi cho cháu D cần giao con chung của vợ chồng cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị T1 không yêu cầu anh T2 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sau này nếu anh T2 có nguyện vọng nuôi con và có đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện tranh chấp về việc nuôi con chung của vợ chồng sau ly hôn, xét là phù hợp Điều 81; Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân gia đình.
[4.3] Về tài sản, ruộng canh tác: Chị T1 thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung, chị T1 không đề nghị do vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Phan Thị T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của BLTTDS.
[7] Ý kiến quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân gia đình. Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Phan Thị T1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn T2.
[2] Con chung: Xử giao cho chị Phan Thị T1 tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Văn D, sinh ngày 26/11/2010. Chị T1 không yêu cầu anh T2 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[3] Án phí: Chị Phan Thị T1 phải phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007311 ngày 22/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Báo cho các đương sự đều vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án vắng mặt hoặc được niêm yết công khai bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hằng |
5
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Thảo, anh Trường - LH
