Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 24/2024/KDTM-PT

Ngày: 17/7/2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trang

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung

Bà Hồ Thị Tuyết Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLPT- KDTM ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 37/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B.

Địa chỉ: Tầng A, 2, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, số B đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ Chi nhánh: Số A đường T, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T (Có mặt); Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ Ngân hàng TMCP B - Vĩnh Long. Địa chỉ: Số A đường T, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long và Ông Trần Quốc N (Có mặt). Chức vụ: Chuyên viên Phòng thu hồi nợ phía Nam. Địa chỉ: B N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản Giấy ủy quyền ngày 10/7/2024).

Bị đơn: Công ty TNHH C;

Địa chỉ: Số D Khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hồng P (Vắng mặt); Địa chỉ thường trú: Số D Khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện tại: Số G đường T, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người được uỷ quyền: Ông Vũ Trọng T1, sinh năm 1974 (Có mặt). Địa chỉ: Tổ I, Khu phố A, Phường H, thành phố B, tỉnh Vĩnh Long. (Hợp đồng uỷ quyền ngày 02/7/2024).

Và Phạm Trường T2, sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng P (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Số D Khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện tại: Số G đường T, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long

Người được uỷ quyền: Ông Nguyễn Thế T3. (Có mặt). Địa chỉ: I C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 29/12/2023, Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:

Ngân hàng cấp tín dụng cho Công ty TNHH C (sau đây gọi tắt là Công ty) gồm: Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202100082 ngày 22/06/202, kèm Phụ lục hợp đồng số PL01 - HDTD66D202100082 ngày 25/02/2022; Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202200137 ngày 26/08/2022. Hạn mức tín dụng chung tối đa 100.000.000.000 đồng, chia làm 02 (hai) thành phần hạn mức:

Hạn mức thành phần 01: Cho vay tối đa 75.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi lăm tỷ đồng), Hạn mức bảo lãnh (bao gồm cả phát hành thư tín dụng), Hạn mức chiết khấu, tái chiết khấu, Hạn mức khác: Hạn mức cho vay + Hạn mức phát hành bảo lãnh (trừ bảo lãnh vay vốn) và hạn mức phát hành UPAS/UPAU L/C nội địa tối đa 100.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm tỷ đồng). Hạn mức thành phần 02: Hạn mức bảo lãnh theo Quy định gói sản phẩm cấp tín dụng đối với nhà thầu thi công công trình có nguồn thanh toán từ ngân sách Nhà nước (NSNN) ODA tối đa 25.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm tỷ đồng). Thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng từ ngày 26/08/2022 đến hết ngày 25/08/2023. Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn lưu động, phát hành bảo lãnh và phát hành UPAS/ UPAU L/C nội địa phục vụ hoạt động kinh doanh hợp pháp của công ty.

Lãi suất, M lãi suất cho vay được các bên thỏa thuận cụ thể thể ghi trên Giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ dùng để tính lãi tiền vay trả cho Ngân hàng theo quy định tại Hợp đồng và được tính một năm là 365 ngày; Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần: (LScv = LScs + Margin); Lãi suất phạt quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm.

Ngân hàng đồng thời phát hành hai (02) Thẻ tín dụng: gồm 01 thẻ Visa + 01 thẻ JCB tổng hạn mức 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng).Mục đích vay tiêu dùng. Lãi suất cho vay 28%/năm. Phí: gồm phí thường niên, phí phạt chậm thanh toán. Tài sản đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng kể trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 092/2021/HĐTC/PGDTraOn ký ngày 22/09/2021; 102/2021/HĐTC/PGDTraOn ký ngày 15/11/2021; 030A/2022/HĐTC/PGDTraOn ngày 24/03/2022 và 039/2022/HĐTC/PGDTraOn ký ngày 14/04/2022 gồm:

  1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 139335, số vào sổ cấp giấy CS01587. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 20/9/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P thửa đất số: 1837, Tờ bản đồ số: 04, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 139336, số vào sổ cấp giấy CS01588. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 20/9/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P thửa đất số: 1836, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359639, số vào sổ cấp giấy CS02124. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2158, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359638, số vào sổ cấp giấy CS02126. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2159, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  5. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359637, số vào sổ cấp giấy CS02124. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2160, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  6. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 772790, số vào sổ cấp giấy CT21954. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 21/7/2021 đứng tên Công ty TNHH C, thửa đất số: 14, Tờ bản đồ số: 36, Địa chỉ thửa đất: Ấp T, Thị Trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  7. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 273595, số vào sổ cấp giấy CH02524. Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 13/02/2012. Cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hồng P ngày 23/3/2022, thửa đất số: 118, Tờ bản đồ số: 35, Địa chỉ thửa đất tại đường N, phường B, quận B, Thành phố Cần Thơ.
  8. Xe ô tô con theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 025901 do Phòng C1 Công an thành phố C cấp ngày 06/04/2018 cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P. Xe nhãn hiệu ô tô: HONDA, Loại xe: CR-V, Số máy: L15BG1112496, Số khung: MRHRW1850JP080036, Biển số: 65A-150.71, Màu xe: Xanh, S chỗ ngồi: 07.

Quá trình thực hiện hợp đồng khách hàng đã thanh toán cho Ngân hàng theo từng khế ước nhận nợ như sau:

Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202100082 ngày 22/06/2021 kèm Phụ lục hợp đồng số PL01 - HDTD66D202100082 ký ngày 25/02/2022 đã giải ngân theo các Khế ước nhận nợ sau:KUNN số 66D202100082/01giải ngân ngày 23/06/2021 số tiền 500.000.000 đồng (Đã tất toán), KUUN số: 66D202100082/02 giải ngân ngày 28/06/2021 số tiền 500.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/03 giải ngân ngày 29/06/2021 số tiền 500.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/04 giải ngân ngày 13/07/2021 số tiền 300.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/05 giải ngân ngày 15/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/06 giải ngân ngày 16/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/07 giải ngân ngày 19/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/08 giải ngân ngày 19/07/2021 số tiền 2.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/09 giải ngân ngày 20/07/2021 số tiền 3.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/10 giải ngân ngày 21/07/2021 số tiền 3.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/11 giải ngân ngày 22/07/2021 số tiền 3.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/12 giải ngân ngày 23/07/2021 số tiền 3.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/13 giải ngân ngày 26/07/2021 số tiền 3.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/14 giải ngân ngày 27/07/2021 số tiền 2.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/15 giải ngân ngày 28/07/2021 số tiền 2.000.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/16 giải ngân ngày 24/09/2021 số tiền 10.800.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/17 giải ngân ngày 18/11/2021 số tiền 9.400.000.000 đồng (Đã tất toán), KUNN số: 66D202100082/18 giải ngân ngày 22/12/2021 số tiền 2.000.000.000 đồng (Đã tất toán).

KUNN số: 66D202100082/19 giải ngân ngày 25/3/2022 số tiền 10.300.000.000 đồng, KUNN số: 66D202100082/20 giải ngân ngày 18/4/2022 số tiền 590.000.000 đồng. KUNN số: 66D202100082/21giải ngân ngày 28/4/2022 số tiền 3.000.000.000 đồng, KUNN số: 66D202100082/22 giải ngân ngày 29/4/2022 số tiền 3.000.000.000 đồng, KUNN số: 66D202100082/23 giải ngân ngày 29/4/2022 số tiền 3.000.000.000 đồng,KUNN số 66D202100082/24 giải ngân ngày 05/5/2022 số tiền 4.000.000.000 đồng, KUNN số 66D202100082/25 giải ngân ngày 30/5/2022 số tiền 4.750.000.000 đồng, KUNN số 66D202100082/26 giải ngân ngày 16/6/2022 số tiền 5.500.000.000 đồng,KUNN số 66D202100082/27 giải ngân ngày 21/6/2022 số tiền 550.000.000 đồng.

Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202200137 ngày 26/08/2022 đã giải ngân cho các Khế ước nhận nợ sau: KUNN số 66D202200137/01 giải ngân ngày 26/8/2022 số tiền 4.500.000.000 đồng. KUNN số 66D202200137/02 giải ngân ngày 26/8/2022 số tiền 4.900.000.000 đồng, KUNN số 66D202200137/03 giải ngân ngày 12/01/2023 số tiền 2.000.000.000 đồng.

Nợ khoản Thẻ tín dụng gồm Visa + JCB tổng cộng tính đến ngày 29/12/2023 là 160.092.379, gồm: gốc 125.673.828 đồng, Lãi 32.730.854, Phí/Thuế 1.687.697.

Bắt đầu từ KUNN số: 66D202100082/19 giải ngân ngày 25/3/2022 đến KUNN số 66D202100082/27 giải ngân ngày 21/6/2022 của Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202100082 ngày 22/06/2021 kèm Phụ lục hợp đồng số PL01 - HDTD66D202100082 ký ngày 25/02/2022 và KUNN số 66D202200137/01 giải ngân ngày 26/8/2022 đến KUNN số 66D202200137/03 giải ngân ngày 12/01/2023 của Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202200137 ngày 26/08/2022 và toàn bộ nợ Thẻ tín dụng Visa + JCB đã được Ngân hàng giải Ngân, khách hàng sử dụng nhưng vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận hợp đồng. Ngân hàng nhiều lần làm việc với Công ty và bà P (với tư cách người đại diện theo pháp luật của Công ty và với tư cách cá nhân) để yêu cầu thanh toán nợ đúng hạn nhưng vẫn không được.

Nay Ngân hàng yêu cầu: Công ty và bà P nợ tổng (tính đến ngày 29/12/2023) tổng cộng là 50.796.245.042 đồng, trong đó nợ gốc: 44.210.381.420 và nợ lãi: 6.585.863.622 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày 30/12/2023 trở đi, Công ty còn phải chịu lãi quá hạn, lãi chậm trả phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ. Nếu Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nợ và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ vay.

Bị đơn Công ty TNHH C: Vắng mặt trong quá trình giải quyết nên không ghi nhận được lời khai, ý kiến giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P: Tại Biên bản hòa giải ngày 11/8/2023 bà đề nghị Ngân hàng xem xét tất toán từng khoản nợ theo từng tài sản bảo đảm tạo điều kiện cho bà bán tài sản trả nợ Ngân hàng.

Tiến trình tố tụng, Tòa án đã xác minh, thu thập chứng cứ: Biên bản đo đạc, thẩm định tại chỗ tài sản ngày 26/6/2023 đối với các thửa đất thế chấp bảo đảm khoản vay. Biên bản thẩm định tại chỗ tài sản ngày 01/8/2023 đối với xe ô tô Biển số: 65A-150.71; Biên bản xác minh ngày 27/6/2023 tại thửa đất số: 118, Tờ bản đồ số: 35, Địa chỉ thửa đất tại đường N, phường B, quận B, Thành phố Cần Thơ. Biên bản xác minh ngày 27/6/2023 tại Công an phường B.

Ngày 30/11/2023 Tòa án nhận được Đơn yêu cầu độc lập gửi qua đường bưu điện của bà Bùi Thị N1, sinh năm 1957 và bà Lý Thị Hồng N2, sinh năm 1994 cho rằng là thành viên góp vốn Công ty nhưng quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên không được biết đến, thủ tục cho vay chưa đảm bảo quy định pháp luật, chưa thông qua biên bản họp Hội đồng thành viên, thực hiện hợp đồng tín dụng vượt quá vốn điều lệ mà chưa được sự đồng ý của thành viên góp vốn. Bà N1, bà N2 yêu cầu vô hiệu các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm nêu trên.

Tòa án không hòa giải được nên đưa ra xét xử. Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 23/2023/KDTM-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử như sau:

Buộc Công ty TNHH C phải trả cho Ngân hàng TMCP B tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/12/2023 là 50.796.245.042 đồng (Gồm: Nợ gốc và lãi của Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202100082 ngày 22/06/2021 kèm Phụ lục hợp đồng số PL01 - HDTD66D202100082 ngày 25/02/2022 là 37.514.085.865 đồng; Nợ gốc và lãi của Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202200137 ngày 26/08/2022là 13.122.066.799 đồng; Nợ gốc và lãi của T4 tín dụng Visa + JCB là 160.092.379 đồng) và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên kể từ ngày 30/12/2023cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp Công ty TNHH C tiếp tục vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản bảo đảm thu hồi nợ:

  1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 139335, số vào sổ cấp giấy CS01587. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 20/9/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P thửa đất số: 1837, Tờ bản đồ số: 04, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 139336, số vào sổ cấp giấy CS01588. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 20/9/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P thửa đất số: 1836, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359639, số vào sổ cấp giấy CS02124. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2158, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359638, số vào sổ cấp giấy CS02126. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2159, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  5. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359637, số vào sổ cấp giấy CS02124. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2160, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  6. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 772790, số vào sổ cấp giấy CT21954. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 21/7/2021 đứng tên Công ty TNHH C, thửa đất số: 14, Tờ bản đồ số: 36, Địa chỉ thửa đất: Ấp T, Thị Trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  7. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 273595, số vào sổ cấp giấy CH02524. Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 13/02/2012. Cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hồng P ngày 23/3/2022, thửa đất số: 118, Tờ bản đồ số: 35, Địa chỉ thửa đất tại đường N, phường B, quận B, Thành phố Cần Thơ;
  8. Xe ô tô con theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 025901 do Phòng C1 Công an thành phố C cấp ngày 06/04/2018 cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P. Xe nhãn hiệu ô tô: HONDA, Loại xe: CR-V, Số máy: L15BG1112496, Số khung: MRHRW1850JP080036, Biển số: 65A-150.71, Màu xe: Xanh, S chỗ ngồi: 07.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí định giá và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/01/2024: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng P có kháng cáo: Bà cho rằng Toà án cấp sơ thẩm khi xét xử không đưa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như bà Lý Thị Hồng N2, bà Bùi Thị N1 vào tham gia tố tụng là vi phạm. Bởi đây là mô hình Công ty TNHH B1 thành viên có bà N2 và bà N1 cùng tham gia góp vốn, họ có làm đơn yêu cầu độc lập nhưng cấp sơ thẩm không xem xét.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,

* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn chịu trách nhiệm thanh toán tổng số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng nếu không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp. Đề nghị giữ y án sơ thẩm. Không đồng ý với kháng cáo của bà P. Việc Toà án cấp sơ thẩm không đưa người có liên quan là vào tham gia tố tụng là quan điểm của người giải quyết. Đối với những yêu cầu của đại diện Công ty đề nghị giải chấp tài sản Ngân hàng sẽ xem xét linh hoạt trong quá trình thi hành án khi trình được ý kiến của Hội sở đánh giá xem xét lãi quá hạn và lãi phạt.

* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông đề nghị Ngân hàng xem xét đánh giá cho nhận lại 5 tài sản đứng tên bà P và đồng thời giảm phần lãi phạt để Công ty có điều kiện trả nợ.

* Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Hồng P: Ông thấy rằng Toà án đã cho thời gian để các bên thương lượng nhưng phía người đại diện của Ngân hàng không tự quyết định trong vụ kiện này mà luôn đưa ra lý do chờ ý kiến của Hội sở chính. Lẽ ra, Ngân hàng nên tạo điều kiện để khách hàng có điều kiện để trả nợ trong điều kiện của họ, để giải chấp dần các tài sản đã đưa ra bảo đảm. Đối với phần ông T5 đặt ra thương lượng liên quan đến tài sản là căn nhà đang thế chấp, ông đề nghị phải tính thêm số tiền 640 triệu đồng ông T5 đã nhận. Trong vụ kiện này các bên cũng chưa đặt ra được thêm bất cứ sự thoả thuận nào.

* Ông Phan Trần Phong T6 có ý kiến: Trong vụ kiện này ông không có tham gia tư cách tố tụng nhưng do có liên quan đến phần nhà đất ông vẫn còn đang ở nên ông mong muốn được tham gia để các bên có thể có giải pháp để vụ việc được nhanh chóng kết thúc. Đã có Bản án xác định số tiền bà P còn nợ ông, ông đề nghị trả lại 7 tỷ đồng để nhận lại tài sản nhà đất đã ký chuyển nhượng cho bà P. Còn phần ông T3 đặt ra số tiền 640 triệu ông không đồng ý.

*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng p trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung:

Do bị đơn Công ty C vay tiền của nguyên đơn Ngân hàng B theo các hợp đồng tín dụng, nhưng bị đơn không thanh toán vốn và lãi suất cho nguyên đơn. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên xử: Buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/12/2023 Nợ gốc và lãi của các Hợp đồng hạn mức tín dụng số và tiếp tục trả lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên kể từ ngày 30/12/2023 cho đến khi trả hết nợ. Đối với nội dung này bị đơn không có kháng cáo, nên không xem xét, giải quyết. Trường hợp không thanh toán được nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi các tài sản để thế chấp để thanh toán nợ.

Đối với nội dung này bà Nguyễn Thị Hồng P kháng cáo cho rằng các Giấy CNQSDĐ: số CS01587 thửa đất số 1837, số CS011836 thửa đất số 1836, CS02124 thửa đất số 2158, số CS02126 thửa đất số 2159, CS02125 thửa đất số 2160, là các tài sản do bà P có nhận góp vốn với bà Bùi Thị N1 và bà Lý Thị Hồng N2 để mua các phần đất theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, nhưng bà N1 và bà N2 để cho bà P đứng tên trên giấy chứng nhận để thuận lợi cho việc kinh doanh. Từ đó bà P ký các hợp đồng thế chấp các QSDĐ này cho bị đơn để đảm bảo khoản vay cho các HĐTD tại Ngân hàng, nhưng các QSDĐ này đang có nhà và cây trồng của bên góp vốn (bà N1 và bà N2), hiện tại bên góp vốn đang khiếu nại và tranh chấp, nên bà P kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, nhận thấy:

Hồ sơ vụ án thể hiện: Lý do bà Bùi Thị N1, bà Lý Thị Hồng N2 nêu trong Đơn yêu cầu độc lập và nhận định của cấp sơ thẩm, xét thấy đơn được gửi sau khi Tòa án đã tổ chức công khai chứng cứ và hòa giải và đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp nếu có tranh chấp thì khởi kiện thành vụ án khác tại cơ quan Tòa án có thẩm quyền để được giải quyết theo thủ tục chung là phù hợp, đúng quy định.

Ngoài ra, căn cứ vào các Giấy CNQSDĐ: số CS01587 thửa đất số 1837, số CS011836 thửa đất số 1836, CS02124 thửa đất số 2158, số CS02126 thửa đất số 2159, CS02125 thửa đất số 2160 đều do bà P đứng tên sử dụng và các quyền sử dụng đất này bà P đã ký thế chấp theo các hợp đồng thế chấp (có công chứng và đăng ký giao dịch tại các cơ quan có thẩm quyền) để bảo đảm cho khoản vay của bị đơn. Do đó, nếu bị đơn không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi các tài sản thể chấp để thu hồi nợ.

Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định không đưa bà N2 và bà N1 vào tham gia tố tụng, trường hợp bà N1 và bà N2 nếu có tranh chấp thì khởi kiện thành vụ án khác tại cơ quan Tòa án có thẩm quyền để được giải quyết theo thủ tục chung là có căn cứ, đúng quy định.

Từ những phân tích trên nhận thấy yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng P yêu cầu hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ y bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; ý kiến của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ được thu thập, thẩm tra xác định đương sự “ tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng như án sơ thẩm nhận định là phù hợp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng, bà P có đơn xét xử vắng mặt nên cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với những người này.

[3] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan có đơn kháng cáo trong hạn luật định và đã nộp dự phí kháng cáo, nên phù hợp về mặt hình thức.

Về nội dung không có kháng cáo: Đối với số nợ gốc; tiền lãi trong hạn và quá hạn của nguyên đơn đối với bị đơn, các bên không ai đặt ra kháng cáo nên giữ y như án sơ thẩm tuyên.

[4] Về nội dung: Để xét kháng cáo của các đương sự cần thiết đánh giá với tổng thể các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ kiện, lời khai của các đương sự và các chứng cứ khác, lần lượt đánh giá xem xét đánh giá kháng cáo.

[5] Các Hợp đồng hạn mức tín dụng, Phụ lục hợp đồng, K ước nhận nợ và T4 tín dụng Visa + JCB được Ngân hàng với Công ty (bà Nguyễn Thị Hồng P là đại diện theo pháp luật tại thời điểm này) ký kết tự nguyện. Hợp đồng thế chấp được chứng thực đúng quy định của Luật Công chứng. Theo quy định tại các Điều 92, 93 Bộ luật Tố tụng dân sự đây được xem là chứng cứ không cần phải chứng minh về quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với Công ty.

[6] Do bị đơn Công ty C vay tiền của nguyên đơn Ngân hàng B theo các hợp đồng tín dụng, nhưng bị đơn không thanh toán vốn và lãi suất cho nguyên đơn. Do đó, Bản án sơ thẩm số 23/2023/KDTM-ST ngày 29/12/2023 của TAND quận Cái Răng tuyên xử: Buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/12/2023 về số nợ gốc và lãi của các Hợp đồng hạn mức tín dụng và tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên kể từ ngày 30/12/2023 cho đến khi trả hết nợ. Đối với nội dung này bị đơn không có kháng cáo, nên không xem xét, giải quyết.

Tuy nhiên, trong phần tuyên án cần thiết phải điều chỉnh rõ hơn phần tiền lãi ...tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên kể từ ngày 30/12/2023 cho đến khi trả hết nợ theo đó cần điều chỉnh lại như sau: “tiếp tục trả lãi phát sinh trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên kể từ ngày 30/12/2023 cho đến khi trả hết nợ” mới đầy đủ. Cần thiết có điều chỉnh câu từ trong nội dung tuyên để đảm bảo quyền lợi của các bên.

[7] Xét kháng cáo: Bà P cho rằng Toà án cấp sơ thẩm khi xét xử không đưa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như bà Lý Thị Hồng N2, bà Bùi Thị N1 vào tham gia tố tụng là vi phạm. Bởi đây là mô hình Công ty TNHH B1 thành viên có bà N2 và bà N1 cùng tham gia góp vốn, họ có làm đơn yêu cầu độc lập nhưng cấp sơ thẩm không xem xét.

Xét thấy trong Đơn yêu cầu độc lập, cấp sơ thẩm đã có nhận định và đánh giá thấy đơn được gửi sau khi Tòa án đã tổ chức công khai chứng cứ và hòa giải và đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp nếu có tranh chấp thì khởi kiện thành vụ án khác tại cơ quan Tòa án có thẩm quyền để được giải quyết theo thủ tục chung.

[8] Toà án đã dành nhiều thời gian cho các bên đương sự đối chiếu và tìm phương án để thoả thuận, đến phiên toà phúc thẩm hôm nay Ngân hàng cũng đã xác định sẽ tạo điều kiện linh hoạt trong quá trình thi hành án khi người đại diện của Công ty C là ông Vũ Trọng T1 đưa ra cách thức thời gian thanh toán để nhận lại các tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, do các bên chưa xác định được số tiền sẽ được giảm, thời gian trả nợ và phương án cụ thể để nhận lại các tài sản đã thế chấp nên không ghi nhận được. Nếu sau này, trong giai đoạn thi hành án các bên sẽ tự thoả thuận. Toà án không ghi nhận cụ thể trong bản án này.

[9] Đối với ông Phan Trần Phong T6 cho rằng ông và bà Nguyễn Thị Hồng P có ký kết Hợp đồng CNQSDĐ tại thửa 118, TBĐ số 35, diện tích 396.8m², trên đất có căn nhà cấp 4, sau đó bà P đã làm thủ tục để đứng tên quyền sử dụng đất nhưng bà P chưa trả đủ tiền cho ông, ông đã khởi kiện bà P về tranh chấp hợp đồng vay tại TAND quận Cái Răng vụ án đã được xét xử sơ thẩm BA số 108/2023/DS-ST ngày 07/8/2023, Bản án phúc thẩm số 42/2024/DS-PT ngày 29/01/2024 Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tuyên xử: chấp nhận yêu cầu của ông T6, buộc bà Nguyễn Thị Hồng P có nghĩa vụ trả cho ông T6 số tiền 4.887.138.522 đồng (vốn 4.360.000.000 đồng + lãi 527.138.522 đồng. Dù không đưa tham gia tố tụng với tư cách người có liên quan nhưng do các bên yêu cầu Toà án cũng đã tạo điều kiện cho các bên đưa ra ý kiến để đảm bảo thuận lợi cho việc thi hành án sau này vì hiện nay gia đình vẫn ở trên phần đất này tại đường N, phường B, quận B, nên ông T6 có yêu cầu trả lại số tiền bà P đã trả tiền chuyển nhượng đất của ông là 07 tỷ để ông T6 trả cho nguyên đơn và được đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa 118. Tuy nhiên, như đã phân tích vụ kiện này không đưa ông T6 vào tham gia tố tụng với tư cách liên quan nên cũng không đặt ra vấn đề xem xét thoả thuận liên quan đến vụ kiện này. Tuy nhiên, các bên không thoả thuận nên bản án không đặt ra xem xét các vấn đề này.

Từ những phân tích trên nhận thấy yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng P yêu cầu hủy bản án sơ thẩm nhưng không đưa ra được thêm căn cứ gì khác nên không có cơ sở chấp nhận.

[10] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà P không được chấp nhận nên phải chịu án phí.

[11] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng P: Giữ y bản án sơ thẩm và điều chỉnh rõ hơn phần tiếp tục trả lãi phát sinh trên số nợ gốc; cụ thể như sau:

I. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.

Buộc Công ty TNHH C phải trả cho Ngân hàng TMCP B tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/12/2023 là 50.796.245.042 đồng (Gồm: Nợ gốc và lãi của Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202100082 ngày 22/06/2021 kèm Phụ lục hợp đồng số PL01 - HDTD66D202100082 ngày 25/02/2022 là 37.514.085.865 đồng; Nợ gốc và lãi của Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD66D202200137 ngày 26/08/2022 là 13.122.066.799 đồng; Nợ gốc và lãi của T4 tín dụng Visa + JCB là 160.092.379 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên kể từ ngày 30/12/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp Công ty TNHH C tiếp tục vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản bảo đảm thu hồi nợ:

  1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 139335, số vào sổ cấp giấy CS01587. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 20/9/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P thửa đất số: 1837, Tờ bản đồ số: 04, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 139336, số vào sổ cấp giấy CS01588. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 20/9/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P thửa đất số: 1836, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359639, số vào sổ cấp giấy CS02124. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2158, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359638, số vào sổ cấp giấy CS02126. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2159, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  5. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 359637, số vào sổ cấp giấy CS02124. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 12/11/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P, thửa đất số: 2160, Tờ bản đồ số: 04A, Địa chỉ thửa đất: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  6. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 772790, số vào sổ cấp giấy CT21954. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 21/7/2021 đứng tên Công ty TNHH C, thửa đất số: 14, Tờ bản đồ số: 36, Địa chỉ thửa đất: Ấp T, Thị Trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
  7. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 273595, số vào sổ cấp giấy CH02524. Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 13/02/2012. Cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hồng P ngày 23/3/2022, thửa đất số: 118, Tờ bản đồ số: 35, Địa chỉ thửa đất tại đường N, phường B, quận B, Thành phố Cần Thơ;
  8. Xe ô tô con theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 025901 do Phòng C1 Công an thành phố C cấp ngày 06/04/2018 cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P. Xe nhãn hiệu ô tô: HONDA, Loại xe: CR-V, Số máy: L15BG1112496, Số khung: MRHRW1850JP080036, Biển số: 65A-150.71, Màu xe: Xanh, S chỗ ngồi: 07.

II. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH C trả lại cho Ngân hàng TMCP B 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tài sản.

III. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH C phải chịu 158.796.000 đồng (một trăm năm mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 76.570.000 đồng (bảy mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003015 ngày 20/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.

IV. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003188 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng thành án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 17/7/2024).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSNDTPCT;

- TAND Q. Cái Răng

- Cục THADS Q.Cái Răng

- Lưu Hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/KDTM-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger