|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HSST Ngày: 28 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Ninh và ông Nguyễn Xuân Hành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường UBND xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXX-ST, ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với:
Bị cáo Trần Công N, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2005 tại A, Quảng Ninh, Quảng Bình; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Công T và bà Lê Thị H; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24 tháng 01 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Xuân B, sinh năm 2004; nghề nghiệp: Đầu bếp; địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 50 phút ngày 23/01/2024, tại đường liên thôn đoạn gần cổng làng H, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, trong quá trình tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, tổ công tác thuộc Công an xã H đã phát hiện và bắt quả tang đối với Trần Công N (sinh năm 2005; trú tại thôn K, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) đang cất giấu bên trong túi quần phía sau bên trái 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có chứa 06 (sáu) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng. Trần Công N khai nhận, toàn bộ số viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng này là ma túy dạng hồng phiến Nam mua về cất giấu để sử dụng. Tổ tuần tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Công N, thu giữ niêm phong những tang vật có liên quan.
2
Tại Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,54g (không phẩy năm mươi bốn gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình đã thu giữ:
01 (một) gói giấy bạc, bên trong dựng 06 (sáu) viên ma túy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong điện thoại gắn hai thẻ sim; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, BKS: 73E1-494.28, xe đã qua sử dụng.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, BKS: 73E1-494.28, xe đã qua sử dụng cho anh Trần Xuân B.
Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Công N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Công N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Trần Công N đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, số lượng 06 viên, khối lượng 0,54gam. Cáo trạng truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Công N mức án từ 12 đến 18 tháng tù; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định; trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong điện thoại gắn hai thẻ sim.
Bị cáo Trần Công N nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, có điều kiện giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
3
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo thống nhất, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 21 giờ 50 phút ngày 23/01/2024, Trần Công N tàng trữ bên trong túi quần phía sau bên trái 06 (sáu) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,54g, mục đích để sử dụng. Hành vi của Trần Công N thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma túy là loại chất gây nghiện có nguy cơ gây hại rất lớn cho xã hội, Nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giấu để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính chất vụ án, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật; chấp nhận như đề nghị của Viện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh về mức hình phạt là hoàn toàn phù hợp.
[6] Về xử lý người liên quan trong vụ án: Bị cáo Trần Công N khai mua ma túy tại khu vực thôn T, xã D từ một nam thanh niên không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.
4
[7] Về vật chứng vụ án: Khối lượng chất ma túy thu giữ trong vụ án sau khi giám định còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong gắn hai thẻ sim; bị cáo khai không liên quan đến việc mua ma túy nên cần trả lại cho bị cáo; đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen, mang BKS:73E1-494.28 xe đã qua sử dụng của anh Trần Xuân B, bị cáo mượn xe đi mua ma túy nhưng anh B không biết, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã quyết định trả lại cho anh B là hoàn toàn phù hợp với khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên HDXX miễn xét.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Công N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
-
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Trần Công N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Công N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24 tháng 01 năm 2024.
-
Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì giấy dán kín, trên ghi nội dung “151/KL-KTHS” đã được niêm phong, bên trong chứa 0,406 gam (không phẩy bốn trăm linh sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine và vỏ bao gói còn lại sau khi giám định. Trả lại cho bị cáo Trần Công N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong gắn hai thẻ sim. Vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 07 tháng 5 năm 2024.
-
Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Công N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
6
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 24/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử bị cáo Trần Công N
