|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HSST Ngày: 28-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Liên;
2. Ông Y Míp Niê;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cát Cảng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Văn T, sinh năm 1974 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố 6, phường D, thành phố H, tỉnh H; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Trịnh Văn A, sinh năm 1949 và bà Dương Thị D (đã chết), hiện đang sống tại thành phố H, tỉnh H; bị cáo có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1978 và có 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006), hiện vợ con bị cáo đang sống và làm nông tại thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Từ ngày 17/11/2020 đến ngày 17/9/2022 bị áp dụng biện pháp Cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2023, sau đó chuyển tạm giam. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Krông Năng, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị H, sinh năm 1978; trú tại: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Văn T, sinh năm 1974 trú tại thôn K, xã T, huyện N là người nghiện loại ma túy. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 47E1-390.29 hiệu Honda màu đỏ - đen, đi từ nhà tại thôn K, xã T, huyện N đến đoạn đường khu vực Km 55 thuộc địa phận xã N, huyện B, tỉnh Đắk Lắk tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực thuộc chợ xã N, huyện B, T gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, T hỏi người này có ma túy bán không và đưa 200.000 đồng, thì người này trả lời là có, lấy tiền và đưa cho T 02 gói ma túy, 01 gói giấy bạc và 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. T cất giấu vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc trên người rồi điều khiển xe về nhà. Khi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk thì bị Công an huyện Krông Năng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trên người Trịnh Văn T 01 (một) gói giấy bạc màu vàng và 01 (một) gói bằng tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng (Hai ngàn đồng), bên trong cả hai gói đều chứa chất rắn màu trắng, Trịnh Văn T khai nhận là ma túy, loại heroine, mua về để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 58/KL-KTHS ngày 29/12/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy bạc màu vàng và 01 (một) gói bằng tờ tiền giấy mệnh giá 2.000₫ (Hai ngàn đồng) thu giữ của Trịnh Văn T (được niêm phong gửi giám định) là ma tuý, khối lượng là 0,1053 gam, loại Heroine.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 47E1-390.29, loại xe Wave, số khung: 12118Y012368, số máy: HC12E1012436 tại thời điểm ngày 25/12/2023 có giá trị 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Trịnh Văn T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H có ý kiến: Chiếc xe máy là tài sản chung của bà H với bị cáo. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có phương tiện đi lại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bà Lê Thị H tự nguyện nộp 3.500.000 đồng vào ngân sách Nhà nước để nhận lại chiếc xe máy biển kiểm soát 47E1-390.29, loại xe Wave, số khung: 12118Y012368, số máy: HC12E1012436 về sử dụng.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như bản cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 25/12/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định 0,0838 gam loại Heroine; 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 (một) xe máy biển kiểm soát 47E1-390.29, loại xe Wave, màu đỏ đen, số khung: RLHHC12118Y012368, số máy: HC12E1012436 (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Trịnh Văn T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng trên. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trịnh Văn T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Các quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng bắt quả tang Trịnh Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1053 gam, loại Heroine đê sử dụng.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại Điều luật nêu trên quy định:
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
”
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, mà còn gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương huyện Krông Năng nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực để nhận thức được rằng: Chất ma tuý là loại độc dược gây nghiện, thuộc sự quản lý độc quyền của Nhà nước, việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán và sử dụng đều phải được sự cho phép của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1053 gam loại Heroin. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1]. Về nhân thân: Từ ngày 17/11/2020 đến ngày 17/9/2022 bị áp dụng biện pháp Cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, mà Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3.3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4]. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.
[5]. Đối với hành vi của người đàn ông mà bị cáo Trịnh Văn T khai bán ma túy cho bị cáo hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã tách ra khi nào xác minh được sẽ xử lý sau là phù hợp.
[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
[6.1]. Tịch thu, tiêu hủy khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định 0,0838 gam loại Heroine và 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
[6.2]. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
[6.3]. Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 47E1-390.29, loại xe Wave, bị cáo T sử dụng để đi mua ma túy. Đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo với bà Lê Thị H. Do đó, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc xe máy 47E1-390.29, loại xe Wave, số khung: 12118Y012368, số máy: HC12E1012436. Trường hợp, bà Lê Thị H có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường một phần giá trị đối với chiếc xe nêu trên thì bà H có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự riêng.
[7]. Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T: 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 25/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định 0,0838 gam loại Heroine; 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 (một) xe máy biển kiểm soát 47E1-390.29, loại xe Wave, màu đỏ đen, số khung: RLHHC12118Y012368, số máy: HC12E1012436 (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
3. Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Xuân Hải |
Bản án số 24/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 24/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
