|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS-ST
Ngày 17 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hà
Bà Nguyễn Thị Mai Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 15/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn Đ, sinh năm 1993, tại huyện Q, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn T, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; mã số định danh cá nhân 002093009769; con ông: Hoàng Văn D, sinh năm 1961 và bà Hoàng Thị P, sinh năm 1964; vợ: Triệu Mùi C, sinh năm 1987 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 23/01/2024 của Công an thị trấn Y, huyện Q xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/01/2024, tạm giam ngày 30/01/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.
2. Mai Thị T, sinh ngày 14/9/1992, tại huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi thường trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi tạm trú: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD 00219002790 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/4/2023; con ông: Mai Văn Đ1, sinh năm 1960 và bà Mai Thị Đ2, sinh năm 1964; chồng: đã ly hôn năm 2023 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/01/2024, tạm giam ngày 30/01/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Lý Thị S, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Lữ Thị N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện B, tỉnh Lao Cai; vắng mặt.
- Lìu Thị H, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khu B, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.
- Lý Thị H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
- Mai Trí T1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
- Hoàng Đình Q, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 24/01/2024 Hoàng Đình Q đến nhà nghỉ T4 để chơi, khi đến nơi thì Q gặp Mai Thị T hỏi có nhân viên nữ bán dâm không, T trả lời có. Q hỏi giá mua dâm khoảng 01 giờ thì T trả lời 300.000 đồng. Q đồng ý, sau đó T dẫn Q vào phòng 104, trong phòng có Lữ Thị N đang ở đó, Q và N tự cởi quần áo của mình ra, N lấy bao cao su rồi đeo vào dương vật của Q rồi quan hệ tình dục. Đối với Mai Trí T1 khoảng 21 giờ cùng ngày Tuy một mình đi taxi đến nhà nghỉ T4, đến nơi T1 gặp T hỏi giá mua dâm thì T trả lời 300.000 đồng/01 lượt, thời gian quan hệ từ 30 đến 40 phút, T1 đồng ý sau đó T dẫn Tuy vào phòng 105, trong phòng có Lý Thị S ở đó, sau đó T1 và S quan hệ tình dục. Khi Q, Tuy đang quan hệ tình dục tại phòng 104, 105 thì bị tổ Công tác Phòng C1 Công an tỉnh H kiểm tra nhà nghỉ T4 thuộc thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang do Hoàng Văn Đ, sinh năm 1993, trú thôn T, thị trấn Y, huyện Q và Mai Thị T, sinh năm 1992, nơi cư trú thôn M, xã V, huyện B, hiện tạm trú tại thôn T, xã T, huyện Q quản lý phát hiện và bắt qủa tang: Tại phòng 104 có Lữ Thị N, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai đang bán dâm cho Hoàng Đình Q, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Tại phòng 105 phát hiện Lý Thị S, sinh năm 1993, trú tại thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai đang bán dâm cho Ma Trí T3, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Hà Giang. Tại phòng 106 có Lý Thị Hà, sinh năm 1985, trú tại thôn P, xã Đ, huyện B,tỉnh Hà Giang; tại phòng 103 có Lìu Thị H, sinh năm 1993, trú tại Khu B, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đang ở trong phòng chờ để bán dâm. H khai nhận buổi tối ngày 24/01/2024 H đã bán dâm được cho 3 khách tại phòng 103, khách thứ nhất vào khoảng 18 giờ, khách thứ hai khoảng 19 giờ, khách thứ ba khoảng 20 giờ. Q và T3 chưa trả tiền mua dâm cho T.
Quá trình điều tra Hoàng Văn Đ khai nhận hành vi chứa mại dâm của mình như sau:
Ngày 01/11/2023 Hoàng Văn Đ thuê lại nhà nghỉ trọ H 199 của Nguyễn Văn T2 sinh năm 1982, nơi cư trú thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang để kinh doanh lưu trú. Quá trình kinh doanh do có một số khách hỏi mua dâm nên Đ nảy sinh ý định chứa gái bán dâm để hưởng lợi. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 11/2023 đến cuối tháng 12/2023 có: P1 nhà ở huyện B, tỉnh Cao Bằng; Duyên nhà ở tỉnh Tuyên Quang; H2, sinh năm 1989, nhà ở tỉnh Vĩnh Phúc; Lữ Thị N và Lý Thị S đến gặp Đ xin ở lại nhà nghỉ T4 để bán dâm, Đ đồng ý và thỏa thuận với P1, N, D1, H2 giá 01 lần quan hệ tình dục nhanh là 250.000 đồng, Đ sẽ trả cho người bán dâm 130.000 đồng. Giá 01 lần mua dâm qua đêm là 800.000 đồng, Đ sẽ trả cho người bán dâm 450.000 đồng. Thỏa thuận với S giá 01 lần quan hệ tình dục nhanh là 300.000 đồng, Đ sẽ trả cho S 150.000 đồng. Những người bán dâm được Đ bố trí ăn nghỉ, bán dâm tại nhà nghỉ T4. Trong thời gian ở nhà nghỉ T5 bán dâm 07 lần (gồm 05 lần quan hệ tình dục nhanh, 02 lần bán dâm qua đêm). Tổng số tiền Định thu được của khách mua dâm với P1 là 2.850.000 đồng, Đ trả cho P1 1.550.000 đồng, Đ được hưởng 1.300.000 đồng. Lữ Thị N bán dâm cho khách 13 lần quan hệ tình dục nhanh. Tổng số tiền Định thu được của khách mua dâm với N là 3.250.000 đồng, Đ trả cho N 1.690.000 đồng, Đ được hưởng 1.560.000 đồng. Duyên bán dâm cho khách 01 lần quan hệ tình dục nhanh, Đ trả cho D1 130.000 đồng, Đ được hưởng số tiền 120.000 đồng. Lý Thị S bán dâm cho khách được 05 lần quan hệ tình dục nhanh. Tổng số tiền Định đã thu của khách đến mua dâm với S là 1.500.000 đồng, Đ trả cho S 750.000 đồng, Đ được hưởng 750.000 đồng. H2 chỉ ở lại nhà trọ của Đ một ngày, bán dâm cho được 01 lần với giá 250.000 đồng, Đ trả cho H2 130.000 đồng, Đ được hưởng 120.000 đồng. Số tiền hưởng lợi từ việc chứa mại dâm Đ chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi chứa mại dâm của Mai Thị T và Hoàng Văn Đ:
Đến cuối tháng 12/2023 Đ nói chuyện với Mai Thị T, công an xã không cho Đ kinh doanh việc lưu trú với lý do Đ gây mất an ninh trật tự và Đ không muốn kinh doanh hoạt động chứa mại dâm nữa, do T là người yêu của Đ, thường xuyên đến gặp Đ tại nhà nghỉ T4, T biết việc Đ chứa gái mại dâm nên T bảo để T nhận làm. Ngày 01/01/2024 T ký lại hợp đồng thuê nhà nghỉ trọ H 199 với T2. T tiếp tục chứa 02 gái bán dâm là Lữ Thị N và Lý Thị S. Tuy Định không trực tiếp thuê nhà nghỉ T4 199 nữa nhưng T và Đ thay nhau, cứ khoảng 3 - 4 ngày và những lúc T đi vắng, bận việc thì Đ đến quản lý nhà nghỉ, quản lý nhân viên, thỏa thuận giá cả với khách và dẫn khách vào phòng cho khách mua dâm.
Ngày 13/01/2024 và ngày 18/01/2024 Lìu Thị H và Lý Thị H1 gọi điện trao đổi với Đ xin Đ cho đến nhà nghỉ T4 làm gái bán dâm, Đ đồng ý, sau đó Đ nói với T là có người tên H và H1 đến xin làm giá bán dâm, sau đó H và H1 đến gặp T để làm gái bán dâm, T thỏa thuận với H giá 01 lần quan hệ tình dục nhanh là 300.000 đồng, T sẽ trả cho H 150.000 đồng, giá mua dâm qua đêm 800.000 đồng, T trả cho H số tiền là 450.000 đồng. T thỏa thuận sẽ trả cho Lý Thị H1 số tiền 130.000 đồng/01 lần quan hệ tình dục đi nhanh. H và H1 được T bố trí cho ăn nghỉ, bán dâm tại nhà nghỉ T4. Trong thời gian ở lại nhà nghỉ trọ Lìu Thị H đã bán dâm cho khách được 07 lần (trong đó có 01 lần Đ là người dẫn khách vào phòng để H bán dâm). Tổng số tiền T thu của khách đến mua dâm với H là 2.050.000 đồng (trong đó thu 6 lần/300.000 đồng và 01 lần/250.000 đồng), T trả cho H 1.050.000 đồng, T được hưởng 1.000.000 đồng. H1 bán dâm cho khách được 06 lần, tổng số tiền Tiên thu của khách là 1.500.000 đồng, T trả cho H1 là 780.000 đồng, T giữ lại và hưởng số tiền 720.000 đồng. Lữ Thị N bán dâm được 30 lần quan hệ tình dục nhanh, số tiền T thu được của khách mua dâm với N là 7.500.000 đồng, T trả cho N 3.990.000 đồng, T được hưởng 3.600.000 đồng; Lý Thị S đã bán dâm cho khách được 20 lần quan hệ tình dục nhanh, số tiền T thu được của khách mua dâm với S là 6.000.000 đồng, T trả cho S 3.000.000 đồng, T được hưởng số tiền 3.000.000 đồng. Số tiền hưởng lợi từ việc chứa mại dâm T chi tiêu cá nhân hết.
Lữ Thị N, Lý Thị S, Lìu Thị H, Lý Thị H1 khai nhận đều là nhân viên bán dâm cho khách của nhà nghỉ T4 199, ăn nghỉ sinh hoạt tại nhà nghỉ, việc bán dâm cho khách hàng ngày do Đ và T sắp xếp, quản lý.
Tại bản cáo trạng số 21/CT - VKSQB ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo Hoàng Văn Đ và Mai Thị T về tội Chứa mại dâm theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 6 đến 7 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/01/2024.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Thị T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai của những người làm chứng trùng khớp với lời khai của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng giữa tháng 11/2023 đến cuối tháng 12/2023 Hoàng Văn Đ thuê nhà nghỉ T4 thuộc thôn T, xã T, huyện Q của Nguyễn Văn T2 sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã T, huyện Q để kinh doanh lưu trú sau đó chứa gái mại dâm. Đến ngày 01/01/2024 Mai Thị T trực tiếp ký hợp đồng thuê lại nhà nghỉ trọ H 199 với anh T2 nhằm mục đích chứa mại dâm. T cùng với Đ quản lý nhà nghỉ, Đ thỉnh thoảng đến giúp T thu tiền và dẫn khách vào phòng để mua dâm. Ngày 13/01/2024 và ngày 18/01/2024 có Lý Thị Hà, sinh năm 1985, nơi cư trú thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang và Lìu Thị H, sinh năm 1993, nơi cư trú Khu B, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ gọi điện cho Đ để xin làm gái bán dâm, Đ đồng ý rồi Đ bảo H1 và H đến gặp T để thỏa thuận làm gái bán dâm. Từ 01/01/2024 đến 24/01/2024 T và Đ chứa 04 người bán dâm là Lữ Thị N, Lý Thị S, Lừu Thị H3 và Lý Thị H1, trong đó Lìu Thị H đã bán dâm cho những người khác nhau 07 lần, H1 bán dâm cho những người khác nhau 06 lần, N bán dâm cho những người khác nhau 30 lần, S đã bán dâm cho những người khác nhau được 20 lần. Tổng số tiền Mai Thị T thu được từ việc chứa mại dâm là 17.050.000 đồng, T đã trả cho người bán dâm 8.730.000 đồng, T thu lợi bất chính là 8.320.000 đồng. Buổi tối ngày 24/01/2024 H đã bán dâm được cho 3 khách tại phòng 103, khách thứ nhất vào khoảng 18 giờ, khách thứ hai khoảng 19 giờ, khách thứ ba khoảng 20 giờ. Đến 21 giờ 45 phút ngày 24/01/2024 S và N đang bán dâm, H1, H đang tại nhà nghỉ T4 199 chờ bán dâm thì bị tổ công tác Phòng C1 Công an tỉnh H phát hiện bắt quả tang. Do vậy hành vi trên của các bị cáo Đ, T đã phạm tội Chứa mại dâm với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên; Chứa mại dâm 4 người trở lên” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh và làm ảnh hưởng đến nhân cách con người; gây mất trật tự xã hội. Tệ nạn mại dâm còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm. Các bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi do bản thân mình gây ra, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đối với vị cáo Hoàng Văn Đ ngày 23/01/2024 bị Công an thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo cũng như đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Đây là vụ án có nhiều người cùng cố ý thực hiện tội phạm, là đồng phạm nhưng không có sự phân công, câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện. Trong vụ án này Đ một mình thực hiện hành vi chứa mại dâm từ khoảng giữa tháng 11/2023 đến cuối tháng 12/2023. Kể từ ngày 01/01/2024 T là người đứng ra ký hợp đồng thuê nhà nghỉ trọ với T2, quá trình kinh doanh đã sử dụng nhà nghỉ trọ thuộc quyền quản lý của mình để làm địa điểm cho khách đến thực hiện hành vi mua bán dâm. Đ là người giới thiệu gái bán dâm đến làm cho T, Đ và T cùng nhau quản lý nhà nghỉ, quản lý nhân viên, thỏa thuận giá cả, thu tiền của khách, dẫn khách vào phòng nghỉ để thực hiện hành vi mua bán dâm. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Đ, T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đ có ông N1 là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước và tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, các bị cáo đều có nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Đối với Nguyễn Văn T2 khi cho Hoàng Văn Đ và Mai Thị T thuê nhà nghỉ T4, T2 không biết việc Đ và T có hành vi chứa mại dâm nên không xem xét xử lý về hình sự.
[7] Đối với Lữ Thị N, Lý Thị S, Lìu Thị H, Lý Thị Hà t đến nhà nghỉ T4 để làm gái bán dâm, ngoài ra không có hành vi phạm tội nào khác do đó ngày 28/7/2024 Công an huyện Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lữ Thị N, Lý Thị S, Lìu Thị H, Lý Thị H1 số tiền 400.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[8] Đối với Hoàng Đình Q và Mai Trí T1 ngày 28/7/2024 Công an huyện Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Đình Q và Mai Trí T1 số tiền 1.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[9] Về vật chứng:
- - 01 quyển vở có bìa màu xanh phía trên đầu quyển vở có dòng chữ “PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUANG BÌNH TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN TRỊNH”, bên trong quyển vở có 05 tờ giấy, trong đó có trang bìa và ba tờ giấy viết nhiều chữ và số; 01 quyển sổ bìa ngoài màu xanh, trên bìa có dòng chữ “SỐ QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ LƯU TRÚ” trong sổ có 43 tờ giấy, trong đó có 04 tờ giấy ghi nhiều chữ và số, là vật chứng cần lưu theo hồ sơ vụ án.
- - 01 phong bì bên trong có 04 hộp bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, mỗi hộp có 12 bao cao su chưa qua sử dụng; 01 hộp bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, bên trong có 08 bao cao su chưa qua sử dụng và 01 bao cao su nhãn hiệu SATO màu vàng chưa qua sử dụng;
- - 01 phong bì bên trong có 07 bao cao su đã qua sử dụng và 14 vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
- - 01 phong bì bên trong có 08 bao cao su đã qua sử dụng và 08 vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
- - 01 phong bì bên trong có 02 vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
- - 01 phong bì bên trong có 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu SATO đã qua sử dụng và 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng;
- - 01 phong bì bên trong có 06 bao cao su nhãn hiệu SATO chưa qua sử dụng;
- - 01 phong bì bên trong có 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu OK đã qua sử dụng và 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng;
- Tất cả những vật chứng trên đều không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO Reno7, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 863557051848070, IMEI 2: 863557051848062. Có gắn thẻ sim số 0969397199 thu giữ của bị cáo T. Đây là công cụ phương tiện bị cáo T sử dụng để liên lạc trao đổi với bị cáo Đ trước khi nhận người bán dâm đến nhà nghỉ làm việc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 864945060399376, IMEI 2: 864945060399368, có gắn thẻ sim 0848966286 thu giữ của Hoàng Văn Đ, đây là chiếc điện thoại Đ sử dụng để liên lạc với những người bán dâm, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Từ 01/01/2024 đến 24/01/2024 Mai Thị T thu lợi bất chính là 8.320.000 đồng từ việc chứa mại dâm. Đây là số tiền T có được do thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Từ giữa tháng 11/2023 đến ngày 31/12/2023 Hoàng Văn Đ thu lợi bất chính số tiền 3.850.000 đồng. Đây là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Đ, Mai Thị T phạm tội Chứa mại dâm.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/01/2024.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Mai Thị T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/01/2024.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, số IMEI 1: 864945060399376, IMEI 2: 864945060399368, có gắn thẻ sim 0848966286.
- + 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO Reno7, số IMEI 1: 863557051848070, IMEI 2: 863557051848062, có gắn thẻ sim số 0969397199.
- - Truy thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Mai Thị T số tiền 8.320.000 đồng.
- - Truy thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Hoàng Văn Đ số tiền 3.850.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã tự nguyện nộp trước theo biên lai thu tiền số 0001529 ngày 17/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 phong bì bên trong có 04 hộp bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, mỗi hộp có 12 bao cao su chưa qua sử dụng; 01 hộp bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, bên trong có 08 bao cao su chưa qua sử dụng và 01 bao cao su nhãn hiệu SATO màu vàng chưa qua sử dụng.
- + 01 phong bì bên trong có 07 bao cao su đã qua sử dụng và 14 vỏ bao cao su đã qua sử dụng.
- + 01 phong bì bên trong có 08 bao cao su đã qua sử dụng và 08 vỏ bao cao su đã qua sử dụng.
- + 01 phong bì bên trong có 02 vỏ bao cao su đã qua sử dụng.
- + 01 phong bì bên trong có 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu SATO đã qua sử dụng và 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng.
- + 01 phong bì bên trong có 06 bao cao su nhãn hiệu SATO chưa qua sử dụng.
- + 01 phong bì bên trong có 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu OK đã qua sử dụng và 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng.
- Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ngày 15/8/2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn Đ, Mai Thị T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hải Phương |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về hình sự (tội chứa mại dâm)
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Chứa mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Định cùng đồng phạm phạm tội chứa mại dâm
