|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 24/2024/HS-ST. Ngày: 14-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Trần Nguyên Vỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tám.
- Ông Lưu Văn Thành.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồ Thu Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Trần Hoàng Vũ, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Hải M, sinh ngày 20/02/1996; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nông; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1995; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2019 và con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ ngày 24/01/2024, chuyển tạm giam ngày 02/02/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Q. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1995. Vắng mặt.
- Địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2002. Vắng mặt.
- + Bà Bùi Thị Kim A, sinh năm 1984. Có mặt.
- Cùng địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952. Có mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1995. Có mặt.
- Cùng địa chỉ: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Anh Lê Minh Đ. Địa chỉ: 1 đường T, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
- + Anh Tống Phước M1, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- + Anh Trần Đắc C, sinh năm 1997. Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 50 ngày 24/01/2024, bị cáo điều khiển xe máy hiệu Attila Elizabeth màu đỏ, biển số 54U3-6802 đi từ nhà tại xã Q đến thị trấn Đ. Khi đi bị cáo cầm 02 tép ma tuý trên tay với mục đích ai mua sẽ bán. Bị cáo đi đến đoạn đường ĐT611 thuộc thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam thì bị Công an xã Q dừng xe kiểm tra. Khi thấy công an, bị cáo đã vứt 02 tép ma tuý xuống đường nhưng bị Công an xã Q phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận:
Sáng ngày 21/01/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 54U3-6802 từ nhà ra bến xe Đ thuộc thành phố Đà Nẵng và vào quán cà phê (không xác định được địa chỉ) tìm 01 người tên L1 để mua ma tuý (trước đây bị cáo đã mua ma tuý của người này về sử dụng). Một lát sau L1 đến, bị cáo nói L1 có bán ma tuý thì bán cho bị cáo 1.500.000 đồng ma tuý đá. L1 đồng ý nói bị cáo ngồi chờ. Khoảng 30 phút sau L1 quay lại, bị cáo đưa cho L1 số tiền 1.500.000 đồng, L1 đưa cho bị cáo 01 gói ma tuý đá được gói trong túi nylon. Bị cáo mang ma tuý về nhà và lên trên gác rồi dùng kéo cắt ống hút thành nhiều đoạn nhỏ. Bị cáo đổ ma tuý vào 03 đoạn ống hút rồi hàn kín hai đầu và cất trong người, số ma túy còn lại bị cáo mang ra phía sau nhà sử dụng một mình.
Khoảng 21 giờ ngày 22/01/2024, anh T sử dụng điện thoại số 0935.436.xxx gọi vào điện thoại số 0384.195.xxx gặp bị cáo để hỏi mua 200.000 đồng ma tuý đá và mang lên nhà anh T, bị cáo đồng ý. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 54U3-6802 mang ma tuý đến nhà anh T để giao một gói ma tuý được bỏ trong ống hút. Anh T dùng tài khoản game chuyển vào tài khoản Ngân hàng A1 của bị cáo số tiền 1.280.000 đồng, trong đó: có số tiền 200.000 đồng là tiền mua ma tuý trên; số tiền 230.000 đồng, anh T mượn của bị cáo để tiêu xài; số tiền 850.000 đồng là tiền anh T chơi game thắng được, sau khi chuyển vào tài khoản ngân hàng của bị cáo thì anh T nhờ bị cáo chuyển vào tài khoản ngân hàng A2 số 4206205118290 của bà Bùi Thị Kim A là mẹ của anh T, để anh T rút tiền. Sau khi mua được ma tuý, anh T mang ma tuý vào khu vực rừng phía sau nhà sử dụng hết. Ngoài ra, vào đầu tháng 01 năm 2024 (không xác định ngày cụ thể), bị cáo còn bán ma tuý cho anh T 01 lần với số tiền 200.000 đồng.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, anh N gọi qua ứng dụng Facebook Messenger cho bị cáo để hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá, bị cáo đồng ý hẹn anh N lên khu vực trước nhà bị cáo. Bị cáo lấy 01 gói ma tuý đá ra trước nhà đưa cho anh N, anh N đưa cho bị cáo 500.000 đồng. Sau đó, anh N mang ma tuý về khu vực rừng gần nhà để sử dụng hết. Ngoài ra, vào đầu tháng 01 năm 2024 (không xác định ngày cụ thể), bị cáo còn bán ma tuý cho anh N 01 lần với số tiền 200.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 105/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: các mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi giám định (các mẫu ký hiệu A1 và A2) là ma túy, loại Methamphetamine.
- + Mẫu A1 gửi giám định có khối lượng là 0,045 g (không phẩy không trăm bốn mươi lăm gam).
- + Mẫu A2 gửi giám định có khối lượng là 0,140 g (không phẩy một trăm bốn mươi gam).
Kèm theo kết luận giám định: bản ảnh giám định.
H2 lại đối tượng giám định: phần khối lượng còn lại sau giám định của mẫu A2 và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định (có Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định). Mẫu A1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ khi bắt quả tang: 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, hàn kín 02 đầu; 01 đoạn băng keo màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elizabeth màu đỏ, biển số 54U3-6802; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 màu đen, số seri GTOREIDYFQJR6545, bên trong có thẻ sim số 0702.656.784 và 0876.973.088; 01 túi nylon không màu kích thước 7,3 cm x 4 cm.
- Thu giữ trong quá trình khám xét: 01 cuộn băng keo màu đen kích thước 1,7 cm, đường kính 5,4 cm; 01 cái kéo màu đen dài 12 cm; 01 đoạn ống hút dài 18,6 cm màu trắng, một đầu được cắt nhọn; 01 thẻ ATM của Ngân hàng A1 mang tên Hoàng Hải M.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSQS ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 24/01/2024.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: bì niêm phong số 105/PC09 của Phòng K Công an tỉnh Q gồm phần khối lượng còn lại sau giám định của mẫu A2 và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định; 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, hàn kín 02 đầu; 01 đoạn băng keo màu đen; 01 túi nylon không màu kích thước 7,3 cm x 4 cm; 01 cuộn băng keo màu đen kích thước 1,7 cm, đường kính 5,4 cm; 01 cái kéo màu đen dài 12 cm; 01 đoạn ống hút dài 18,6 cm màu trắng, một đầu được cắt nhọn là công cụ liên quan đến việc phạm tội và không còn sử dụng.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu đen, số seri GTOREIDYFQJR6545, bên trong có thẻ sim số 0702.656.784 và 0876.973.088 là công cụ phạm tội và còn giá trị sử dụng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elizabeth màu đỏ, biển số 54U3-6802, bị cáo dùng làm phương tiện mua bán ma túy: bị cáo khai nhận là tài sản chung của vợ chồng, mua lại của một người tên P vào năm 2021. Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã xác định người đứng tên chủ sở hữu xe là anh Lê Minh Đ và đã thực hiện ủy thác điều tra đến Cơ quan điều tra Công an quận A3, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, đề nghị chuyển vật chứng trên lại cho Cơ quan Công an huyện Q tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Trả cho bị cáo 01 thẻ ATM của Ngân hàng A1 mang tên Hoàng Hải M do không liên quan đến tội phạm.
- - Truy thu số tiền bị cáo bán ma túy mà có.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:
Sáng ngày 21/01/2024, bị cáo mua ma tuý của người đàn ông tên L1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tại thành phố Đà Nẵng về để sử dụng và bán. Bị cáo bán ma túy đá cho: anh T vào ngày 22/01/2024 với số tiền 200.000 đồng và vào đầu tháng 01 năm 2024 (không xác định ngày cụ thể) với số tiền 200.000 đồng; anh N vào ngày 23/01/2024 với số tiền 500.000 đồng và vào đầu tháng 01 năm 2024 (không xác định ngày cụ thể) với số tiền 200.000 đồng. Đến ngày 24/01/2024, khi đang cất giữ ma tuý trong người với mục đích ai mua sẽ bán thì bị cáo bị Công an xã Q bắt quả tang với tổng khối lượng là 0,185 g loại Methamphetamine. Hành vi bán ma túy nhiều lần của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 19/CT-VKSQS ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội: ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, sử dụng ma tuý là một trong những tệ nạn nguy hiểm nhất trong xã hội. Khi sử dụng chất ma túy sẽ làm cho con người có nhận thức lệch lạc, mơ hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, là tác nhân gây ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được điều đó nhưng do hám lợi từ việc bán trái phép chất ma túy và có ma túy để sử dụng nên bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ chất ma túy, bị cáo đã tự khai nhận hành vi bán trái phép chất ma tuý; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự đã xuất ngũ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo nhưng cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về hành vi của những người có liên quan đến vụ án:
- - Hành vi bán ma túy của người đàn ông tên L1: do không biết họ và tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể nên không đủ cở sở để xử lý.
- - Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo, anh T và anh N, Cơ quan điều tra Công an huyện Q có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
- - Bà Nguyễn Thị H (mẹ của bị cáo) là chủ sở hữu điện thoại và đứng tên đăng ký số thuê bao 0384.195.271: bà H khai nhận số điện thoại này bị cáo hay sử dụng, bà không biết hành vi mua bán ma tuý của bị cáo; hiện nay điện thoại đã rơi mất. Do đó, không có căn cứ để xử lý bà H.
- - Bà Bùi Thị Kim A là người đăng ký số tài khoản 4206205118290 của Ngân hàng A2. Bà A khai nhận, thẻ ATM số tài khoản trên của bà, anh T thường sử dụng để rút tiền, bà không biết việc chuyển tiền mua ma tuý. Do đó, không có căn cứ để xử lý bà A.
[8] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu huỷ: bì niêm phong số 105/PC09 của Phòng K Công an tỉnh Q gồm phần khối lượng còn lại sau giám định của mẫu A2 và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định; bì niêm phong số PS2 2126908 bên trong chứa: 01 cuộn băng keo màu đen kích thước 1,7 cm, đường kính 5,4 cm, 01 cái kéo màu đen dài 12 cm, 01 đoạn ống hút dài 18,6 cm màu trắng, một đầu được cắt nhọn; bì niêm phong màu trằng ghi chữ “Công an tỉnh Q, Công an huyện Q” bên trong có: 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu, 01 đoạn băng keo màu đen; 01 túi nylon không màu kích thước 7,3 cm x 4 cm là công cụ liên quan đến việc phạm tội và không còn sử dụng.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu đen, số seri GTOREIDYFQJR6545, bên trong có thẻ sim số: 0702.656.784 và 0876.973.088 là công cụ phạm tội và còn giá trị sử dụng.
- - Trả cho bị cáo 01 thẻ ATM của Ngân hàng A1 mang tên Hoàng Hải M do không liên quan đến việc phạm tội (trong bì niêm phong PS2 2126908).
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elizabeth màu đỏ, biển số 54U3-6802, bị cáo dùng làm phương tiện mua bán ma túy: bị cáo khai nhận là tài sản chung của vợ chồng, mua lại của một người tên P vào năm 2021. Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã xác định người đứng tên chủ sở hữu xe là anh Lê Minh Đ và đã thực hiện ủy thác điều tra đến Cơ quan điều tra Công an quận A3, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, đề nghị chuyển vật chứng trên lại cho Cơ quan Công an huyện Q tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.
[9] Về biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự
Truy thu số tiền 1.100.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 292, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Hoàng Hải M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Hải M 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (24/01/2024).
2. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu huỷ: bì niêm phong số 105/PC09 của Phòng K Công an tỉnh Q gồm phần khối lượng còn lại sau giám định của mẫu A2 và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định; bì niêm phong số PS2 2126908 bên trong chứa: 01 cuộn băng keo màu đen kích thước 1,7 cm, đường kính 5,4 cm, 01 cái kéo màu đen dài 12 cm, 01 đoạn ống hút dài 18,6 cm màu trắng, một đầu được cắt nhọn; bì niêm phong màu trằng ghi chữ “Công an tỉnh Q, Công an huyện Q” bên trong có: 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu, 01 đoạn băng keo màu đen; 01 túi nylon không màu kích thước 7,3 cm x 4 cm.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu đen, số seri GTOREIDYFQJR6545, bên trong có thẻ sim số 0702.656.784 và 0876.973.088.
- - Trả cho bị cáo 01 thẻ ATM của Ngân hàng A1 mang tên Hoàng Hải M (trong bì niêm phong PS2 2126908).
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elizabeth màu đỏ, biển số 54U3-6802: chuyển vật chứng trên lại cho Cơ quan Công an huyện Q tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.
- (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024).
3. Về biện pháp tư pháp: truy thu của bị cáo số tiền 1.100.000 đồng.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14-9-2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trần Nguyên Vỹ |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo M mua bán trái phép chất ma túy
