TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS-PT Ngày: 15/4/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hòa;
Bà Vương Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Phùng Đức Khương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Trương Văn C do có kháng cáo của các bị cáo Đ và C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
- Trần Văn Đ, sinh năm 1985 tại Hải Dương; nơi đăng ký HKTT: khu dân cư L, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; gia đình có 03 anh chị em; bị cáo là con thứ hai; vợ là Hoàng Thị H, sinh năm 1986, có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/02/2011, bị UBND thị xã C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính 4.000.000 đồng về hành vi mua bán, tiêu thụ và vận chuyển khoáng sản (than) không có nguồn gốc hợp pháp. Ngày 24/02/2011 chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 23/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt tại phiên tòa.
- Trương Văn C, sinh năm 1975 tại Hải Dương; nơi đăng ký HKTT: Khu A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T2, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1937; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; vợ là Trần Thị Á, sinh năm 1978, con: có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 23/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội Facebook, Trần Văn Đ có biết một người thanh niên tên S, nhà ở thành phố B (không rõ nhân thân, lai lịch). Ngày 13/12/2023 S sử dụng tài khoản Zalo tên là “A Yeu Em” liên lạc với Đại để nhờ mua pháo hoa nổ chơi Tết Nguyên đán năm 2024. Sau đó, Đại liên hệ với Trương Văn C (là bạn của Đ) qua số điện thoại 0902.128.xxx và tài khoản Zalo của C để hỏi mua pháo hoa nổ, mục đích bán lại cho S kiếm lời. Chính báo giá cho Đ pháo hoa nổ loại 36 viên/dàn là 800.000 đồng/hộp, loại 48 viên/dàn là 1.200.000 đồng/hộp và loại 100 viên/dàn là 2.200.000 đồng/hộp (tất cả là pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất). Sau đó, Đ báo giá lại cho S loại pháo hoa nổ loại 36 viên là 1.200.000 đồng/1 hộp thì S đồng ý và đặt mua 12 hộp. Đồng thời nói với Đ mang đến khu L, phường V, thành phố B giao cho S và thanh toán bằng tiền mặt. Đại đồng ý và nói S phải trả thêm cước thuê xe taxi chở hàng là 700.000 đồng, tổng số tiền S phải thanh toán cho Đ là 15.100.000 đồng. S đồng ý.
Sau đó, Đại liên lạc lại với C và đặt mua 12 hộp pháo hoa nổ loại 36 viên. C đi đến cửa khẩu M, tỉnh Quảng Ninh mua của một người đàn ông không quen biết 12 hộp pháo hoa nổ loại 36 viên/1 dàn, có đặc điểm hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi hộp bằng nhau là (15,5x15,5x14,5) cm, bên ngoài có bìa màu đỏ và có chữ Trung Quốc với giá 350.000 đồng/ hộp; tổng số tiền là 4.200.000 đồng. Chính bán lại cho Đ 9.600.000 đồng, mục đích hưởng lợi 5.400.000 đồng.
Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, Đ thuê 01 xe taxi nhãn hiệu Kia Cerato BKS: 34A-305.08 do anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1997, HKTT: Khu dân cư L, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương chở Đ đi đến nhà C ở khu A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương để lấy pháo (Đ chưa thanh toán tiền cho C). Sau đó, Đ đi taxi mang theo 12 hộp pháo hoa nổ đến bán cho S ở thành phố B. Đến khoảng 0 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, khi Đ đi đến đoạn đường D, khu công nghiệp Q thuộc khu L, phường V, thành phố B gặp S. Khi đang kiểm hàng thì bị lực lượng Công an thành phố B kiểm tra. Lợi dụng sơ hở, S đã bỏ chạy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa Đ về trụ sở Công an thành phố B để làm việc. Ngày 15/12/2023, C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đầu thú.
Tại bản Kết luận giám định số 60/KL-KTHS, ngày 18/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: "12 khối hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15,5x15,5x14,5)cm, bên ngoài mỗi khối đều có chữ Trung Quốc gửi giám định có tổng khối lượng 17,2kg là pháo hoa nổ.
Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HSST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử và tuyên bố Trần Văn Đ, Trương Văn C phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (BLHS): xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 23/12/2023 được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Trương Văn C 13 (mười ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 23/12/2023 được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/01/2024, các bị cáo Trần Văn Đ, Trương Văn C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo Đ khai do hoàn cảnh khó khăn, không ý thức đầy đủ tính nghiêm trọng của việc buôn bán pháo nổ nên phạm tội. Bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ân hận về hành vi của mình. Bị cáo là lao động chính trong nhà; hiện nay, gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, vợ không có công việc ổn định phải nuôi 02 con nhỏ. Hàng tháng bị cáo còn phải chu cấp cho bố vợ là thương binh, bệnh binh và 02 anh em của vợ bị khuyết tật. Bị cáo mong HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới để cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo xin hứa sẽ chấp hành nghiêm pháp luật và không tái phạm.
Bị cáo C trình bày, bị cáo không ý thức được tính nghiêm trọng của việc buôn bán pháo nổ. Ngoài hành vi phạm tội lần này, bị cáo luôn nghiêm túc chấp hành pháp luật. Bị cáo đã ý thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã ra đầu thú. Bị cáo là lao động chính trong gia đình; hiện gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang có 02 con nhỏ, mẹ bị cáo đã gần 90 tuổi, đang rất yếu, cần người chăm sóc. Bị cáo mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào nội dung kháng cáo của các bị cáo tại phiên tòa, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nhân thân của các bị cáo đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các bị cáo Trần Văn Đ, Trương Văn C có đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, cả hai bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm; Biên bản sự việc, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trương Văn C đã có hành vi mua 17,2kg là pháo nổ (pháo hoa nổ) tại Cửa khẩu M, Quảng Ninh của người đàn ông không quen biết, sau đó bán cho bị cáo Trần Văn Đ nhưng chưa thanh toán tiền. Bị cáo Đ có hành vi bán lại số pháo trên cho người tên S tại thành phố B (không rõ nhân thân, lai lịch). Khi Đ và S đang trao đổi, kiểm hàng chưa kịp thanh toán tiền thì bị lực lượng Công an thành phố B phát hiện. Lợi dụng sơ hở, S bỏ trốn. Hành vi của các bị cáo Đ và C đã cấu thành tội buôn bán hàng cấm với khối lượng 17,2 kg pháo nổ. Do vậy, Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Văn Đ, Trương Văn C về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội để xử phạt bị cáo Đ 18 tháng tù, bị cáo C 13 tháng tù là phù hợp.
[4] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Bị cáo Đ có bố vợ vừa là thương binh vừa là bệnh binh. Hoàn cảnh bị cáo rất khó khăn, hiện đang nuôi 02 con nhỏ và hàng tháng còn phải trợ cấp cho 02 anh em vợ bị khuyết tật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm Bên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm số 0000540 ngày 12/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, thể hiện bị cáo đã có ý thức chấp hành pháp luật. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng. Bị cáo mua bán số lượng pháo không lớn, chỉ 17,2 kg; toàn bộ tang vật đã bị thu giữ, chưa được hưởng lợi gì. Bị cáo phạm tội một phần cũng do hoàn cảnh khó khăn. Mặc dù bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính nhưng hành vi vi phạm xảy ra từ năm 2011, đã chấp hành xong, đến nay đã hơn 13 năm. Bị cáo cũng có xác nhận của chính quyền địa phương trong thời gian tại ngoại và sau xét xử sơ thẩm đều chấp hành pháp luật và chính sách của Nhà nước và địa phương nơi sinh sống. Đối với bị cáo C, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Cơ quan Công an đầu thú; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm Bên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm số 0000541 ngày 12/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cả 02 bị cáo đều được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6] Xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có thể tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên có thể áp dụng chính sách khoan hồng của nhà nước không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù; giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét.
[8] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Trần Văn Đ, Trương Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Đ, Trương Văn C; sửa Bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 15/4/2024).
- Giao bị cáo Trần Văn Đ cho UBND phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xác nhận bị cáo Đ đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bên lai thu tiền số 0000540 ngày 12/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- - Xử phạt bị cáo Trương Văn C 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Sản suất, buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 26 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 15/4/2024).
- Giao bị cáo Trương Văn C cho UBND phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xác nhận bị cáo C đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bên lai thu tiền số 0000541 ngày 12/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đôi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Các bị cáo Trần Văn Đ, Trương Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 24/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 24/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tran Van D và đồng phạm phạm tội Sản xuất và buôn bán hàng cấm
