|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Thùy Hương |
| Thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Bùi Thị Hảo |
| Bà Nguyễn Thị Phẩm | |
| Bà Nguyễn Thu Hằng |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TL-HSST ngày 02 tháng 02 năm 2024.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn Q; sinh ngày 16/02/1990; Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; CCCD số [...] do Cục C về TTXH-BCA cấp 09/5/2021; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Hoàng Văn Q1, đã chết; Mẹ đẻ: Trần Thị D, sinh năm 1950; Anh chị em ruột: gia đình có 05 người, bị cáo là thứ tư; Vợ: Trần Thị Thu H, sinh năm 1994, Lao động tự do; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2022;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 03 ngày 25/7/2013 của Công an xã V, phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong năm 2014.
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 09 ngày 20/01/2016 của Công an thị xã P, phạt 750.000đ hành vi Mua dâm, chấp hành xong ngày 26/01/2016.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2014/HSST ngày 21/01/2014 của TAND huyện Tam Nông xét xử đối với Hoàng Văn Q 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 13/02/2015;
Bồi thường: cho chị H1: 8.500.000đ; Hoàn trả cho anh Hoàng Văn Đ: 10.000.000đ; không có trong sổ thụ lý. Thi hành xong tháng 7/2015.
Án phí: 200.000đ + 875.000đ. Nộp án phí xong tháng 6/2014.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2016/HSST ngày 01/3/2016 của TAND huyện Lâm Thao xét xử đối với Hoàng Văn Q 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án này xác định 01 tiền án là Bản án 05/2014 của T3). Ra trại ngày 10/11/2016. Án phí: 200.000đ, nộp án phí ngày 01/3/2016.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử Hoàng Văn Q 07 tháng tù về tội Đánh bạc. Bị cáo chưa chấp hành bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/8/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh P. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Phạm Ngọc D1, Luật sư Công ty L2 – Đoàn Luật sư tỉnh P
Địa chỉ: Số A, ngõ A, phố M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Bị hại:
- Chị Lê Hồng T, sinh năm 1988
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu B, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
Địa chỉ: Khu C, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Thành Đ1, sinh năm 1985,
- Anh Nguyễn Công H2, sinh năm 1984,
- Ông Nguyễn Huy T1, sinh năm 1966,
- Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1994,
- Anh Vũ Văn K, sinh năm 1986,
Địa chỉ: Tổ D, khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu B, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
Địa chỉ: Khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ(vắng mặt)
Địa chỉ: Khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980,
- Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1985,
- Chị Hoàng Thị L1, sinh năm 1986,
- Anh Đặng Văn Đ2, sinh năm 1985,
- Anh Nguyễn Gia H3, sinh năm 2002,
Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
Địa chỉ: Khu G, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu B, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân, Hoàng Văn Q, sinh năm 1990, có hộ khẩu thường trú ở khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị Lê Hồng T, sinh năm 1988 và chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986, đều có hộ khẩu thường trú ở xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ với tổng số tiền chiếm đoạt là 1.320.000.000₫ thông qua việc “chạy án” cho chị T và chị N. Nội dung sự việc cụ thể như sau:
Chị Lê Hồng T và chị Nguyễn Thị N đều là nhân viên Công ty TNHH J, thuộc khu công nghiệp P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Lợi dụng sự sơ hở trong quản lý Công ty, chị T và chị N đã thỏa thuận với nhau cùng chấm công khống cho chị Phạm Thị N1 – sinh năm 1985 (là công nhân Công ty đã nghỉ việc) và chị Nguyễn Thị L – sinh năm 1980 (là người nộp hồ sơ vào Công ty xin việc nhưng không đi làm), chị N1 và chị L đều ở khu G, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Với thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến tháng 7/2023, chị T và chị N đã chiếm đoạt của Công ty TNHH J tổng số tiền 112.000.000đ.
Ngày 29/7/2023, Công ty TNHH J phát hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị T và chị N nên đã làm đơn trình báo đến Công an thị xã P để giải quyết.
Ngày 30/7/2023, do lo sợ bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã P điều tra xử lý về hình sự nên chị T đã nhờ chị Hoàng Thị L1 – sinh năm 1986; địa chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ là công nhân làm cùng công ty để hỏi xem có quen biết ai có thể xin giúp. Chị L1 cho chị T số điện thoại của Hoàng Văn Q và nói Q quen biết rộng có gì liên hệ nhờ Q hỏi hộ. Chị T đã gọi điện cho Hoàng Văn Q để nhờ Q xin Công an thị xã P không bắt giam và không xử lý hình sự đối với chị T và chị N.
Ngày 31/7/2023, Q gặp chị T và chị N tại quán cà phê thuộc khu vực K, xã H, thị xã P. Đi cùng chị T, chị N có anh Đặng Văn Đ2, sinh năm 1985 (chồng chị T), anh Điêu Văn K1, sinh năm 1983 (chồng chị N), chị Phạm Thị N1 và chị Nguyễn Thị L. Tại đây chị T nói với Q về việc chị T, chị N và chị N1, chị L đang bị Công an thị xã P điều tra về việc chấm công sai, lừa lấy tiền của Công ty trong KCN P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Chị T nhờ Q có quen biết ai tại Công an thị xã P để xin không bị bắt và bị truy tố. Q nói dối là có mối quan hệ quen biết tại Công an thị xã P và có thể xin cho chị T, chị N không bị bắt giam, không bị xử lý hình sự. Q hỏi chị T việc của các chị như thế nào thì chị T trả lời chị T là tổ trưởng, người chấm công, chị N là người chấm vân tay, chị T và chị N đã chấm công cho chị N1, chị L khi 2 chị này không đi làm để lấy tiền của công ty. Hiện Công an đã triệu tập và làm rõ số tiền chiếm đoạt của công ty khoảng hơn 100.000.000đ, chị T và chị N nhờ Q quen biết ai thì xin giúp để không bị bắt giam và không bị truy tố. Sau khi nghe xong, Q nói “tội của các chị vi phạm trên 50.000.000đ là ở mức 2 và có tổ chức cũng ở mức 2 sẽ bị đi tù từ 2 đến 7 năm” và nói sẽ giúp chị T và chị N.
Buổi trưa cùng ngày, Q gọi điện cho chị T thì anh Đ2 (chồng chị T) nghe điện (chị T lúc đó đang làm việc tại Công an thị xã P). Q nói với anh Đ2 “việc của các chị em lo được nhưng trước mắt phải đưa trước 200.000.000đ để lo cho 04 người được tại ngoại không bị bắt giam và phải đưa trong ngày xử lý”. Anh Đ2 thông báo cho chị T và chị N biết để lo tiền, sau đó mỗi người đã chuẩn bị 100.000.000đ. Khoảng 15h ngày 31/07/2023, chị T gọi điện cho Q và đi xe máy cùng anh K1 (chồng chị N) em trai chồng chị N là Điêu Văn T2, sinh năm 1991 đến gặp Q tại đoạn đường H thuộc xã H, thị xã P. Còn Q nhờ anh Nguyễn Gia H3, sinh năm 2002 ở khu 2 xã, T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đi xe mô tô chở đến gặp chị T. Tại đây, chị T cùng với anh K1 đi đến gặp Q, chị T lấy trong trong cốp xe 01 túi nilon màu đen bên trong đựng 200.000.000đ đưa cho Q, Q nhận tiền và đem về cất giấu ở nhà.
Tối ngày 31/07/2023, Q gọi điện cho chị T yêu cầu chị T đưa thêm số tiền 120.000.000₫ để Q gửi tiền thuốc nước cho lãnh đạo và anh em ở đội trong Công an thị xã P và phải đưa cho Q vào ngày hôm sau. Chị T thông báo cho chị N chuẩn bị 60.000.000đ, do chị T không có tiền nên hỏi vay chị N, chị N đồng ý và nói với chị T hiện chỉ lo được 100.000.000đ (mỗi người 50.000.000₫).
Sáng ngày 01/8/2023, chị T điện thoại cho Q nói chỉ lo được 100.000.000đ, Q bảo cho nợ 20.000.000đ và hẹn gặp ở cầu N. Chị T và chị N đi cùng anh Đ2 đến gặp Q. Tại đây chị T đưa cho Q số tiền 100.000.000đ đựng trong 01 chiếc phong bì, số tiền này Q đem về cất giấu ở nhà.
Ngày 03/08/2023, Q tiếp tục gọi điện cho chị T nói “bây giờ 2 chị phải lo 1.000.000.000₫ đưa trước 500.000.000đ để em nói chuyện với đội để xử phạt hành chính cho các chị”. Q yêu cầu chị T phải đưa tiền vào tối ngày 03/8/2023. Chị T nói với chị N để mỗi người chuẩn bị 250.000.000đ. Khoảng hơn 19h cùng ngày chị T và chị N đi xe máy đến gặp Q tại đường H cách cầu N khoảng 2 – 3 km về phía thị xã P, Q đi nhờ xe khách là xe đón công nhân (trên xe không có công nhân) đi từ nhà hàng P đến điểm hẹn, chị T và chị N đứng đợi ở ven đường. Chị T và chị N mỗi người cầm 1 túi nilon sau gộp lại đưa cho Q trong đó có 1 túi nilon màu xanh của ngân hàng và 1 túi nilon màu đỏ bên trong có tổng số tiền 500.000.000đ (mỗi túi có 250.000.000₫). Sau khi nhận tiền Q đi về nhà và cất giấu rồi gọi cho chị T yêu cầu đưa số tiền 20.000.000đ còn thiếu hôm trước.
Sáng ngày 04/08/2023, Q hẹn chị T và chị N ở gần ngã tư C đoạn đường rẽ vào huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quyết bắt xe taxi màu trắng bạc đến điểm hẹn. Tại đây chị T đưa cho Q 20.000.000đ, sau khi nhận tiền Q đi sang huyện T, tỉnh Phú Thọ chơi với bạn và đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 05/08/2023, Q gọi điện cho chị T yêu cầu chị T chuyển số tiền 500.000.000đ và chuyển trong ngày 06/08/2023 để Q lo việc. Chị T nói lại với chị N để mỗi người chuẩn bị 250.000.000đ chuyển cho Q. Khoảng 8h sáng ngày 06/8/2023, Q hẹn chị T ở đường H cách cầu khoảng 2 – 3 km thuộc xã H còn Quyết bắt xe ôm đi ra điểm hẹn. Tại đây chị N lấy 2 túi nilon màu đen bên trong đựng số tiền 500.000.000đ để trong cốp xe rồi cho vào túi áo mưa màu xanh đen đưa cho Q (số tiền này gồm 250.000.000đ của chị T, 250.000.000đ của chị N). Q nhận tiền và nói “ok rồi chị nhé” rồi lên xe đi. Số tiền chiếm đoạt được Q cất giấu ở nhà.
Ngày 09/8/2023, Q tiếp tục yêu cầu chị T và chị N đưa cho Q số tiền 260.000.000đ với lý do “Công ty TNHH J có đơn gửi Công an tỉnh cần phải giải quyết” nhưng chị T và chị N không có tiền, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã P vẫn tiếp tục điều tra vụ việc của chị để xử lý theo quy định của pháp luật, nghi ngờ Q lừa chạy án để chiếm đoạt tiền, chị T, chị N nói với Q là không chạy nữa và xin lại tiền, Q nói với chị N “tiền Q nhận đã chuyển để chạy án hết nếu các chị không chuyển số tiền 260.000.000đ nữa thì sẽ mất hết số tiền đã đưa trước đây, và Q không chịu trách nhiệm nữa, Q sẽ báo Công an bắt chị T và N”. Do đó, chị T, chị N đã trình báo sự việc trên đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh P.
Sau khi chiếm đoạt số tiền 1.320.000.000đ của chị T và chị N, Q sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân cụ thể như sau:
Q đưa cho vợ là Trần Thị Thu H – sinh năm 1994 số tiền 1.000.000.000₫ và bảo chị H trả nợ cho khoản vay tại ngân hàng A chi nhánh thị xã P hết 500.000.000đ trong đó có 490.000.000đ là tiền gốc và 10.000.000₫ là tiền phạt. Còn 500.000.000đ gửi vào tài khoản ngân hàng của chị H để Q sử dụng. Số tiền này, Q cho anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1966 ở khu I, xã T, P, Phú Thọ vay 60.000.000₫ bằng hình thức chuyển khoản (Ngày 01/09/2023, anh T1 đã trả lại cho Q thông qua chị H số tiền 30.000.000đ; hiện còn nợ Q 30.000.000₫); cho anh Nguyễn Công H2, sinh năm 1983, thường trú: khu B, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, hiện ở khu A, xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ vay 100.000.000đ; cho anh Đỗ Thành Đ1, sinh năm 1985 ở Tổ D, khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ vay 200.000.000₫ gồm 194.000.000đ chuyển khoản và 6.000.0000đ tiền mặt. Số tiền còn lại Q đã tiêu xài cá nhân hết.
Trong giai đoạn điều tra, gia đình Q đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; những người vay tiền của Q từ số tiền Q phạm tội mà có đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan điều tra. Cụ thể như sau: Anh Đỗ Thành Đ1 nộp lại số tiền: 200.000.000đ; Anh Nguyễn Huy T1 nộp lại số tiền: 15.000.000đ; Anh Nguyễn Công H2 nộp lại số tiền: 100.000.000đ; Chị Trần Thị Thu H (vợ Q) đã tự nguyện nộp số tiền: 633.000.000đ. Tổng số tiền Cơ quan điều tra thu hồi được trong vụ án này là: 948.000.000₫.
Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho chị Lê Hồng T và Nguyễn Thị N mỗi người số tiền là: 474.000.000₫.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo: Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường cho những người bị hại (sử dụng tiền của Q) tổng số tiền là 948.000.000đ; bị cáo hiện đang thờ cúng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Tuy nhiên, bị cáo có 03 lần bị Tòa án xét xử nên đánh giá bị cáo có nhân thân xấu.
Về vật chứng vụ án: Không
Về bồi thường dân sự: Chị Lê Hồng T và chị Nguyễn Thị N đã nhận được tổng số tiền bồi thường là 948.000.000đ (mỗi người 474.000.000₫). Quyết còn phải bồi thường cho cả 2 bị hại tổng số tiền là 372.000.000đ.
Về tài sản: qua xác minh, bị cáo Hoàng Văn Q sinh sống trên mảnh đất có địa chỉ ở khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ mang tên Hoàng Văn Q, hiện đang thế chấp tại Ngân hàng nông nghiệp tỉnh P. Ngoài ra không có tài sản riêng nào khác có giá trị.
Cáo trạng số: 16/CT-VKSPT-P2 ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:
[1] Về điều luật áp dụng
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1,2 điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 2 điều 56 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng khoản 2, Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[2] Về tội danh, hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 07 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 08 năm 07 tháng tù đến 09 năm 01 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 15/8/2023.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[3] Về Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Xác nhận tại cơ quan điều tra, Anh Đỗ Thành Đ1 đã tự nguyện nộp lại số tiền: 200.000.000đ; Anh Nguyễn Huy T1 đã tự nguyện nộp lại số tiền: 15.000.000đ; Anh Nguyễn Công H2 đã tự nguyện nộp lại số tiền: 100.000.000₫; Chị Trần Thị Thu H (vợ Q) đã tự nguyện nộp số tiền: 633.000.000đ để trả lại cho người bị hại.
Xác nhận người bị hại là chị Lê Hồng T và chị Nguyễn Thị N đã được Cơ quan điều tra – Công an tỉnh P trả lại mỗi người số tiền 474.000.000đ.
Xác nhận, tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn Q và chị Lê Hồng T, chị Nguyễn Thị N thỏa thuận về trách nhiệm dân sự. Bị cáo Hoàng Văn Q có nghĩa vụ hoàn trả chị Lê Hồng T và chị Nguyễn Thị N mỗi người 186.000.000₫.
Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho anh Vũ Văn K chiếc xe ô tô Huyndai Tucson BKS 30E-548.91 và đăng kiểm xe ô tô.
[4] Về án phí:
Bị cáo Hoàng Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 18.600.000₫ án phí dân sự trong vụ án hình sự.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm bào chữa: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở xác định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2023, Hoàng Văn Q, sinh năm 1990, lợi dụng lòng tin của chị Lê Hồng T và chị Nguyễn Thị N đang bị Cơ quan Công an triệu tập làm việc về hành vi chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH J; Q đã đưa ra thông tin gian dối có quen biết với cán bộ Công an, có khả năng “chạy án” được cho chị Lê Hồng T và Nguyễn Thị N để không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Q đã yêu cầu chị T và chị N phải đưa cho Q tổng số tiền 1.320.000.000đ. Sau khi chị T và chị N đưa số tiền trên, Q đã sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Sau đó, Q tiếp tục yêu cầu chị T và chị N đưa thêm cho mình số tiền 260.000.000đ, thì bị chị T và chị N nghi ngờ nên đã tố cáo đến Cơ quan Công an.
Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận, hành vi của bị cáo Hoàng Văn Q đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc đưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo Hoàng Văn Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi đưa ra thông tin không đúng sự thật với mục đích làm cho chị N, và chị T tin là thật để chiếm đoạt của các chị tổng số 1.320.000.000₫ là vi phạm pháp luật. Xong vì mục đích muốn có tiền tiêu sài không phải lao động vất vả, bị cáo đã cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn Q đã hai lần bị Công an xử phạt hành chính, 03 lần bị Tòa án xét xử, đến nay có 02 bản án đã được xóa án tích, còn 01 bản án đã có hiệu lực nhưng chưa thi hành. Mặc dù, không bị coi là có tiền án, tiền sự xong theo đó, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan chức năng xử phạt giáo dục bằng nhiều hình thức, bị cáo vẫn không thay đổi để cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy cần xử lý nghiêm minh bị cáo để làm gương cho người khác. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đánh gía tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình và bạn bè khắc phục hậu quả nộp phần lớn số tiền cho cơ quan điều tra để trả lại cho người bị hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bà HoàngThị V là bà nội của bị cáo là bà mẹ Việt Nam anh hùng, hiện bị cáo là người đang thờ cúng; ông Hoàng Văn U là ông nội của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì vì đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người bị hại là chị N, chị T đều đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có xác nhận của địa phương về việc đã giúp đỡ người bị nạn đi cấp cứu. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng trong khung hình phạt liền kề cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 174 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Sau khi xem xét nhân thân, tài sản, công việc của bị cáo nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Do Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử Hoàng Văn Q 07 tháng tù về tội Đánh bạc đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cáo chưa chấp hành án nên được tổng hợp hình phạt với bản án này để buộc bị cáo đi chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định của pháp luật.
[3] Trong vụ án này, đối với chị Lê Hồng T và Nguyễn Thị N: Ngày 15/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã P đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T và N về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 174 BLHS và đã bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ đưa ra xét xử vào ngày 29/12/2023.
Đối với chị Hoàng Thị L1, là người cho T số điện thoại của Q để liên lạc nhưng chị L1 không biết, không được bàn bạc thỏa thuận với Q cũng không hứa hẹn với chị T, chị N về việc Q “chạy án” cho hai người này nên không đồng phạm với Q, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
Trong giai đoạn điều tra, gia đình bị cáo Hoàng Văn Q đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; những người vay tiền của Q từ số tiền Q phạm tội mà có đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan điều tra. Cụ thể như sau: Anh Đỗ Thành Đ1 nộp lại số tiền: 200.000.000đ; Anh Nguyễn Huy T1 nộp lại số tiền: 15.000.000đ; Anh Nguyễn Công H2 nộp lại số tiền: 100.000.000đ; Chị Trần Thị Thu H (vợ Q) đã tự nguyện nộp số tiền: 633.000.000đ. Tổng số tiền Cơ quan điều tra thu hồi được trong vụ án này là: 948.000.000₫.
Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho chị Lê Hồng T và Nguyễn Thị N mỗi người số tiền là: 474.000.000đ. Việc Cơ quan điều tra trả lại số tiền trên cho chị T và chị N là phù hợp, cần được xác nhận.
Tại phiên tòa, chị T, chị N đều đề nghị bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả số tiền còn lại mỗi người 186.000.000. Bị cáo đồng ý trả số tiền trên cho chị T, chị N. Do vậy, cần xác nhận sự thỏa thuận này.
Đối với chiếc xe Huyndai Tucson BKS 30E-548.91 tạm giữ của Hoàng Văn Q, quá trình điều tra xác định chiếc xe không thuộc xe vật chứng, không bị tẩy xóa số khung số máy thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Vũ Văn K, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả cho anh Vũ Văn K chiếc xe ô tô trên cùng đăng kiểm xe ô tô là phù hợp.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Đề nghị của Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đề nghị của Luật sư bào chữa là bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về điều luật áp dụng
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1,2 điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 2 điều 56 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2, Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[2] Về tội danh, hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 08 (tám) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 08 (tám) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 15/8/2023.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[3] Về Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Xác nhận tại cơ quan điều tra, Anh Đỗ Thành Đ1 đã tự nguyện nộp lại số tiền: 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng); Anh Nguyễn Huy T1 đã tự nguyện nộp lại số tiền: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); Anh Nguyễn Công H2 đã tự nguyện nộp lại số tiền: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng); Chị Trần Thị Thu H (vợ Q) đã tự nguyện nộp số tiền: 633.000.000đ (Sáu trăm ba mươi ba triệu đồng) để trả lại cho người bị hại.
Xác nhận người bị hại là chị Lê Hồng T và chị Nguyễn Thị N đã được Cơ quan điều tra – Công an tỉnh P trả lại mỗi người số tiền 474.000.000đ(Bốn trăm bảy mươi tư triệu đồng).
Xác nhận, tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn Q và chị Lê Hồng T, chị Nguyễn Thị N thỏa thuận về trách nhiệm dân sự. Bị cáo Hoàng Văn Q còn phải có nghĩa vụ hoàn trả chị Lê Hồng T và chị Nguyễn Thị N mỗi người 186.000.000đ (Một trăm tám mươi sáu triệu đồng).
Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho anh Vũ Văn K chiếc xe ô tô Huyndai Tucson BKS 30E-548.91 và đăng kiểm xe ô tô.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Về án phí:
Bị cáo Hoàng Văn Q phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 18.600.000₫ (Mười tám triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Hương |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Q phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
