|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 22-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
Những người tiến hành tố tụng gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị The
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Lạc
Ông Nguyễn Huỳnh Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLHS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: Khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Cha: Lê Văn B, sinh năm 1946; Mẹ: Trần Thị G, sinh năm 1952; Bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Trần Thị Kiều A, sinh năm 2004; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Không có vần đề gì cần ghi nhận; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 14/01/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 23/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lãnh cho đến nay. (Có mặt)
2. Trần Thị Kiều A, sinh năm 2004 tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Tổ B, ấp X, xã Hội Xuân, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở hiện nay: Khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: Trần Văn X (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Kim T1; Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Chồng: Lê Văn T, sinh năm 1995; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Không có vần đề gì cần ghi nhận; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/01/2024 đến ngày 04/3/2024. (Có mặt)
- Người bị hại:
- Bà Lê Thị O, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Ông Đặng Hoàng P, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mộng T3, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Ông Đặng Văn D, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Tuấn K, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Ông Trần Văn L1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Đình V, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Ông Lê Chi D1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn T, sinh năm 1995 và Trần Thị Kiều A, sinh năm 2004 (sống chung như vợ chồng, chưa đăng ký kết hôn, có 01 con chung sinh năm 2022) cùng cư trú khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Tháng 10/2023, T và Kiều A vay tiền của Nguyễn Huy T4, Trần Thị M và Trần Thị T5, lãi suất cao tổng cộng 35.000.000 đồng. Đến đầu tháng 12/2023, do không có tiền trả nợ vay và tiêu xài, T và Kiều A bàn bạc đi trộm cắp xe mô tô không người trông giữ và có gắn sẵn chìa khóa trên xe. T sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S110, màu đỏ, biển số 60T1-5202, T mua năm 2022 với giá 4.500.000 đồng (xe không giấy tờ) để làm phương tiện đi trộm cắp, 01 biển số 61B1-800.02 nhặt được để thay đổi với biển số 60T1-5202 khi cần thiết. Thạnh chuẩn bị 02 áo khoác (01 áo khoác màu xanh dương nhạt, 01 áo khoác màu xanh đậm), 01 mũ lưỡi trai màu xám, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, 01 chìa khóa cỡ 10 và 01 ống điếu 10 (dùng để tháo biển số xe), 01 con dao thái lan cán màu vàng, 01 bịch bột ớt để trong cốp xe phòng khi bị bắt sử dụng chống trả nhằm bỏ trốn. Kiều Anh chuẩn bị 01 mũ bảo hiểm màu đen, viền đỏ, 02 áo khoác (01 áo khoác màu hồng, 01 áo khoác Jeans màu xanh dương). Qua điều tra xác định từ ngày 07/12/2023 đến ngày 28/12/2023 T và Kiều A đã cùng nhau thực hiện 05 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện V, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 07/12/2023, T mặc áo khoác màu xanh dương nhạt, đội mũ bảo hiểm màu đỏ, điều khiển xe mô tô biển số 60T1- 5202 chở Kiều A mặc áo khoác màu hồng, đội mũ bảo hiểm màu đen, viền đỏ, đến thị trấn V, huyện V để tìm xe mô tô trộm cắp nhưng không có. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai đi đến khu dân cư thuộc ấp C, xã V, huyện V, T nhìn thấy xe mô tô hiệu Future 125, màu đỏ đen, biển số 62D1-092.94, của bà Lê Thị O, sinh năm 1975, có gắn sẵn chìa khóa xe (trong cốp xe có giấy đăng ký xe mô tô 62D1-092.94 do Lê Thị O đứng tên), đang để trước cửa nhà không người trông giữ. Kiều A đứng cảnh giới, T vào dẫn xe mô tô trên ra đường rồi nổ máy xe chạy về thị trấn T, huyện T. Thạnh gửi xe mô tô trộm được tại Trung tâm Y tế huyện T. Đến 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2023, T đến Trung tâm y tế huyện T lấy xe chạy đến tiệm C1 thuộc ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cầm cho Nguyễn Đình V, sinh năm 2000, với giá 6.000.000 đồng, T đưa giấy đăng ký xe mô tô 62D1-092.94 do Lê Thị O đứng tên cho V, V đồng ý cầm xe và làm hợp đồng, đưa tiền cho T. Thạnh đón xe ô tô khách về V, Kiều A đến thị trấn V đón T về nhà. T đưa số tiền 6.000.000 đồng đã cầm xe cho Kiều A để chỉ tiêu trong gia đình và trả nợ cho Nguyễn Huy T4, Trần Thị T5.
Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 15/12/2023, với trang phục như vụ thứ nhất, T chở Kiều A bằng xe mô tô biển số 60T1-5202 nhưng trước khi đi Thạnh tháo biển số 60T1-5202 ra, gắn biển số 61B1-800.02 vào. Khi đến chợ B1, thị trấn V, Kiều A điều khiển xe mô tô chở T. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến trước cổng trường tiểu học thị trấn V, thuộc khu phố M, thị trấn V, T thấy xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 62D1-025.45 của bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971 (xe này do Nguyễn Hoàng T6, chồng của T2 đứng tên chủ sở hữu), có gắn sẵn chìa khóa trên xe đang để trước cổng trường. T xuống xe quan sát thấy không có người nên lén lút mở chìa khóa xe, lên xe chạy đi, Kiều A chạy theo sau được một đoạn thì thay áo khoác Jeans màu xanh. T, Kiều A chạy về hướng thị xã K, được một đoạn dừng lại mở cốp xe, thấy có 01 giấy đăng ký xe, 1.560.000 đồng, 01 căn cước công dân của Nguyễn Thị T2. T đi theo hướng ấp C, xã T, ra lộ kênh 79, T gỡ biển số 61B1-800.02 thay lại biển số 60T1- 5202 giao xe mô tô Kiều A điều khiển. T cùng Kiều A điều khiển 02 xe mô tô đến cửa hàng xe gắn máy Trương Ngọc L2 tại đường T, thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ bán xe mô tô vừa trộm được cho Dương Tuấn K, sinh năm 1977, với giá 6.000.000 đồng, T đưa cho K 01 giấy đăng ký xe mô tô 62D1-025.45, căn cước công dân của T2 thì T đem về cất giữ. Tiền bán xe T và Kiều A chi tiêu trong gia đình và trả nợ cho Nguyễn Huy T4, Trần Thị M và Trần Thị T5. Đến ngày 18/12/2023, K bán xe mô tô 62D1-025.45 cho Nguyễn Hoài L3, sinh năm 1994, với giá 8.000.000 đồng. Ngày 06/01/2024, khi Cơ quan điều tra thu hồi xe mô tô 62D1-025.45 thì K đã giao cho L3 01 xe mô tô khác có giá trị tương đương với xe bị thu hồi.
Vụ thứ ba: Với phương thức, thủ đoạn như hai vụ trước, khoảng 12 giờ ngày 23/12/2023, T chở Kiều A bằng xe mô tô đến đường N, khu phố B, thị trấn V, thấy xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 67D1-268.99, của anh Đặng Hoàng P, sinh năm 1995 (Phi mua của Lê Văn L4 nhưng chưa sang tên, giấy đăng ký xe mô tô để trong cốp xe), để trước nhà, có gắn chìa khóa trên xe. Thạnh ngồi trên xe nổ máy sẵn để cảnh giới cho Kiều A. Kiều Anh lén lút lấy trộm xe 67D1- 268.99, nổ máy chạy đến đoạn đê vắng thuộc khu phố R, thị trấn V thì giao xe trộm được cho T điều khiển. T chạy xe trộm được về gửi tại Trung tâm Y tế huyện T. Ngày 24/12/2023, T lấy xe chạy đến cửa hàng mua bán xe cũ N thuộc ấp T, xã M, huyện Đ, bán cho Lê Chi D1, sinh năm 1982, với giá giá 5.000.000 đồng và đưa cho D1 giấy đăng ký xe mô tô do Lê Văn L4, đứng tên chủ sở hữu. Tiền bán xe T và Kiều A tiêu xài và trả nợ cho Nguyễn Huy T4, Trần Thị M và Trần Thị T5.
Vụ thứ tư: Khoảng 14 giờ 20 ngày 25/12/2023, T chở Kiều A bằng xe mô tô trên đường K thuộc Ấp C, xã V, huyện V, thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 62D1- 003.80 của Nguyễn Thị Mộng T3, sinh năm 1995, gắn sẵn chìa khóa trên xe, đang để trong nhà không người trông giữ. Kiều A đứng bên ngoài cảnh giới cho T vào lén lút lấy trộm rồi chạy về gửi tại Trung tâm Y tế huyện T. Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 26/12/2023, T đến Trung tâm Y tế huyện T lấy xe đem đi bán nhưng do xe mô tô trộm được không có giấy tờ nên không bán được nên gửi tại Bệnh viện đa khoa huyện T, tỉnh Long An, rồi cả hai đi về nhà. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, T đến Bệnh viện đa khoa huyện T lấy xe chạy đến thị trấn Đ, huyện Đ. T dùng điện thoại Oppo A31, màu đen chụp hình xe trộm được đưa lên mạng xã hội Facebook bằng tài khoản “Le Van T7”, đăng vào nhóm Cộng đồng Đ, mua bán xe Đ, bán với giá 4.000.000 đồng, T để lại số điện thoại 0374.162.xxx của T. Khoảng 01 giờ sau, Nguyễn Thị Cà P1, sinh năm 1991, dùng số điện thoại 0854.051.xxx gọi điện cho T để liên hệ xem xe trực tiếp tại chợ Đ. Cà Phê cùng Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1986, đến điểm hẹn xem xe và đồng ý mua xe với giá 3.000.000 đồng, T viết giấy bán xe với L. Bán xe xong, T cùng Kiều A đi về nhà. Tiền bán xe T, Kiều A tiêu xài và trả nợ cho Nguyễn Huy T4, Trần Thị M và Trần Thị T5. Đến ngày 28/02/2024, L bán xe mô tô trên, cho Trần Văn L1 với giá 3.000.000 đồng.
Vụ thứ năm: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, T chở Kiều A bằng xe mô tô đến Ấp C, xã V, huyện V, thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen xám, biển số 62D1-059.82 của Đặng Văn D, sinh năm 1972, đang để trước cửa nhà, gắn sẵn chìa khóa. Kiều A đứng ngoài cảnh giới, T đi vào lấy trộm rồi điều khiển theo đường liên ấp về hướng xã T, huyện V. Trên đường đi, T mở cốp xe vừa trộm được thấy có 01 giấy đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân và số tiền 1.550.000 đồng. Thạnh gửi xe trộm được tại Trung tâm Y tế huyện T. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, T đến Trung tâm Y tế T lấy xe đã trộm được chạy đến cửa hàng xe gắn máy Trương Ngọc L2, bán cho Dương Tuấn K, với giá 5.000.000 đồng. T đưa giấy tờ xe cho K, giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và căn cước công dân của Đặng Văn D, T mang về nhà cất giữ. Tiền bán xe Thạnh, Kiều A chi tiêu trong gia đình và trả nợ cho Nguyễn Huy T4, Trần Thị M và Trần Thị T5. Đến ngày 30/12/2023, K bán xe mô tô 62D1- 059.82 cho Trần Văn H, sinh năm 1976, với giá 8.000.000 đồng. Ngày 06/01/2024, khi Cơ quan điều tra thu hồi xe mô tô 62D1-059.82 thì K đã giao cho H 01 xe mô tô khác có giá trị tương đương với xe bị thu hồi.
Ngày 05/01/2024, khi Cơ quan điều tra mời T, Kiều A làm việc thì cả hai khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tất cả 05 xe mô tô do T và Kiều A trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại.
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG, ngày 02/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V xác định mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, màu sơn đen đỏ, biển số 62D1-092.94, tại thời điểm định giá ngày 07/12/2023 có giá trị là 13.333.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG, ngày 12/01/2024, của Hội định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V xác định tại thời điểm định giá ngày 12/01/2024: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại sirius, màu đỏ đen, biển số 62D1-025.45 có giá trị là 8.800.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 67D1- 268.99 có giá trị là 8.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen xám, biển số 62D1-059.82 có giá trị là 7.200.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn đen đỏ, biển số 62D1-003.80 có giá trị là 6.800.000 đồng. Tổng giá trị là 30.800.000 đồng.
T, Kiều A lấy trộm tiền trong cốp xe của hai bị hại là bà Nguyễn Thị T2, ông Đặng Văn D tổng cộng 3.110.000 đồng nên tổng tài sản T, Kiều A trộm cắp là 47.243.000 đồng.
Ngày 02/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngày 14/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn T và Trần Thị Kiều A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSVH ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng truy tố bị cáo Lê Văn T và Trần Thị Kiều A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Văn T và Trần Thị Kiều A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm p, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Kiều A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ, đã qua sử dụng, số khung RLHJC4312BY616133, số máy: JC43E-1630046; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, Màu đen đã qua sử dụng, kiểu máy CPH2073, RAM 04 GB, số Imel: 860646040644279, số I:860646040644261, số sê-ri: A6FUEQ8SHIKNWWP, gắn sim số: 0367843727; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, tình trạng máy đã qua sử dụng màu xanh đen, số M: V6216, gắn 02 sim, sim 1 số: 0374162336, sim 2 số: 0398214435; 01 chìa khóa bằng kim loại cỡ 10; 01 ống điếu bằng kim loại cỡ 10; 01 con dao thái lan cán vàng, mũi nhọn, dài 20,5 cm, lưỡi 11cm, cán dài 9,5 cm, 01 bề sắc.
Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 61B1-80.002, 01 biển số xe 60T1-5202; 01 bịch bột ớt khô màu đỏ bỏ vào trong bịch ni lông, cân nặng 40gram; 01 bịch ni lông màu xanh đã qua sử dụng dùng để đựng áo khoác và bột ớt. 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, có tên Hoa Binh M1 đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu xám đã qua sử dụng; 01 áo khoác nỉ lông màu xanh dương đậm, hiệu DESIGN STYLE, túi áo có dòng chữ SPORTS SPORT đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải màu xanh dương nhạt, có mũ trùm đầu; 01 áo khoác màu hồng, hiệu HODIE có mũ trùm đầu; 01 áo khoác Jean màu xanh đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen viền đỏ đã qua sử dụng, trên mũ có ghi Công ty TNHH T8; 02 cái bao tay màu trắng hình dạng con mèo.
Trả lại cho bị cáo Lê Văn T: 01 giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Lê Văn T; 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn T;
Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Thị Kiều A nộp số tiền 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính sung ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự đề nghị: Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Thị Kiều A có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho các ông bà: Bồi thường cho bà Nguyễn Thị T2 số tiền 1.560.000 đồng, bồi thường cho ông Đặng Văn D số tiền 1.550.000 đồng, bồi thường cho ông Nguyễn Đình V số tiền 6.000.000 đồng, bồi thường cho ông Dương Tuấn K số tiền 11.000.000 đồng, bồi thường cho ông Lê Chi D1 số tiền 5.000.000 đồng, bồi thường cho ông Trần Văn L1 số tiền 2.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng, tội danh, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với Cáo trạng, các kết luận định giá, lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Khoảng đầu tháng 12/2023, do không có tiên tiêu xài và trả nợ nên Lê Văn T và Trần Thị Kiều A (sống chung như vợ chồng, chưa đăng ký kết hôn) bàn bạc với nhau đi trộm cắp tài sản là xe mô tô có gắn sẵn chìa khóa trên xe, không người trông giữ. Cả hai cùng nhau thực hiện 05 vụ trộm cắp, cụ thể:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, tại ấp C, xã V, huyện V, T và A lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future 125, màu đỏ đen, biển số 62D1-092.94, trị giá 13.333.000 đồng, của chị Lê Thị O. Sau đó, cầm xe tại dịch vụ cầm đồ Đại Thảo thuộc ấp T, xã M, huyện Đ, cho Nguyễn Đình V với giá 6.000.000 đồng.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại đường N, đoạn thuộc Khu phố B, thị trấn V, huyện V, T và A lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 62D1-025.45, trị giá 8.800.000 đồng, của chị Nguyễn Thị T2, trong cốp xe có 1.560.000 đồng. Sau đó, bán xe tại cửa hàng X1 thuộc đường Đ, ấp B, xã Đ, huyện Đ, cho Dương Tuấn K với giá 6.000.000 đồng.
Vào lúc 12 giờ 19 phút, ngày 23/12/2023, tại đường N, đoạn thuộc khu phố B, thị trấn V, huyện V, T, Anh lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 67D1-268.99, trị giá 8.000.000 đồng, của anh Đặng Hoàng P. Sau đó, bán xe tại cửa hàng M2 thuộc ấp T, xã M, huyện Đ, cho Lê Chi D1 với giá 5.000.000 đồng.
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25/12/2023, tại Ấp C, xã V, huyện V, T, Anh lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen đỏ, biển số 62D1-003.80, trị giá 6.800.000 đồng, của chị Nguyễn Thị Mộng T3. Sau đó, bán xe cho chị Nguyễn Thị Bích L tại chợ Đ, huyện Đ với giá 3.000.000 đồng.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, tại Ấp C, xã V, huyện V, T, Anh lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen xám, biển số 62D1-059.82, trị giá 7.200.000 đồng, của ông Đặng Văn D. Sau đó, bán xe tại cửa hàng X1, cho Dương Tuấn K với giá 5.000.000 đồng.
[3] Các bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, giá trị tài sản trộm cắp năm lần với số tiền là 47.243.000 đồng. Đây là vụ án đồng phạm có hai người cùng thực hiện tội phạm nhưng không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà là đồng phạm giản đơn, do không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể với nhau. Tài sản trộm cắp là các xe mô tô chủ sở hữu lơ là trong việc quản lý. Tuy nhiên, hai bị cáo cố ý phạm tội liên tiếp về mặt thời gian năm lần, lấy việc trộm cắp làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc trộm cắp làm nguồn sống chính nên thuộc trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Hành vi này của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 17/CT-VKSVH ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong vụ án có 02 bị cáo nhưng không phải là trường hợp phạm tội có tổ chức mà là đồng phạm giản đơn nên cần phân tích làm rõ vai trò của từng bị cáo và xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng cho từng bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Bị cáo Lê Văn T là người khởi xướng rủ rê bị cáo Trần Thị Kiều A cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là những chiếc xe mô tô của những người bị hại có gắn chìa khóa sẵn, không người trông giữ, khi tìm thấy xe thì bị cáo Kiều A và T thay nhau cảnh giới và điều khiển xe ra khỏi nơi cất giữ và tìm nơi tiêu thụ nên cả hai bị cáo thực hiện với vai trò chính là người thực hành. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, khi Cơ qua Cảnh sát điều tra mời làm việc thì các bị cáo đã tự thú những lần phạm tội trước nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại biên bản giám định y khoa số 983/GĐYK-NKT ngày 09/7/2020 của Hội đồng giám định y khoa thuộc Sở Y tế tỉnh L kết luận Lê Văn T có tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%, được xác định là là người khuyết tật nên bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T và Anh đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[8] Xét với tính chất mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo các bị cáo thành người công dân tốt và có tính chất phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo Trần Thị Kiều A và Lê Văn T là vợ chồng (mới đăng ký kết hôn ngày 19/7/2024), có 01 con nhỏ sinh năm 2022, hiện Anh đang sống chung với bị cáo T tại khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An nhưng không đăng ký với chính quyền địa phương và có hộ khẩu thường trú tại Tổ B, ấp X, xã Hội Xuân, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hơn nữa các bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp nên không đủ điều kiện để hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự.
[9] Về vật chứng vụ án:
[9.1] Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả tài sản bị các bị cáo trộm cắp cho những người bị hại gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda, loại Future Fi màu đen đỏ, biển số 62D1-092.94 đã qua sử dụng, 01 giấy đăng ký xe môtô 62D1-092.94 cho bà Lê Thị O; 01 xe mô tô nhãn hiệu honda, loại Wave RSX, biển số 62D1-059.82, màu đen xám, đã qua sử dụng, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 62D1-059.82, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Văn D, 01 căn cước công dân cho ông Đặng Văn D; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 67D1-268.99, màu đỏ, đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe môtô 67D1-268.99 cho ông Đặng Hoàng P; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 62D1-025.45, màu đỏ đen, đã qua sử dụng, 01 giấy đăng ký xe môtô 62D1-025.45 và 01 căn cước công dân cho bà Nguyễn Thị T2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 62D1-003.80 cho bà Nguyễn Thị Mộng T3 là đúng quy định.
[9.2] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ đen, dung tích xi lanh 109cm³, năm sản suất 2011, đã qua sử dụng, số khung RLHJC4312BY616133, số máy: JC43E1630046; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, Màu đen đã qua sử dụng, kiểu máy CPH2073, RAM 04 GB, số Imel: 860646040644279, số I:860646040644261, số sê-ri: A6FUEQ8SHIKNWWP, gắn sim số 0367843727; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, tình trạng máy đã qua sử dụng màu xanh đen, số M: V6216, gắn 02 sim, sim 1 số 0374162336, sim 2 số 0398214435, 01 chìa khóa bằng kim loại cỡ 10, 01 ống điếu bằng kim loại cỡ 10, 01 con dao thái lan cán vàng, mũi nhọn, dài 20,5 cm, lưỡi 11 cm, cán dài 9,5 cm, 01 bề sắc, các bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên bị tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[9.3] Đối với biển số 61B1-80.002 trên xe nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ đen mà bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không phải biển số của chiếc xe này, 01 biển số xe 60T1 - 5202, 01 bịch bột ớt khô màu đỏ bỏ vào trong bịch ni lông, cân nặng 40gram; 01 bịch ni lông màu xanh đã qua sử dụng dùng để đựng áo khoác và bột ớt các bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên bị tịch thu tiêu hủy.
[9.4] Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, có tên Hoa Binh M1 đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu xám đã qua sử dụng; 01 áo khoác nỉ lông màu xanh dương đậm, hiệu DESIGN STYLE, túi áo có dòng chữ SPORTS SPORT đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải màu xanh dương nhạt, có mũ trùm đầu đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu hồng, hiệu HODIE có mũ trùm đầu đã qua sử dụng; 01 áo khoác Jean màu xanh đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen viền đỏ đã qua sử dụng, trên mũ có ghi Công ty TNHH T8; 02 cái bao tay màu trăng hình dạng con mèo, các bị cáo không yêu cầu được nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9.5] Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Lê Văn T và 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn T thuộc quyền sở hữu của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự:
[10.1] Các bị hại đã nhận lại các xe mô tô bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường gì xe mô tô nên Tòa án không xem xét.
[10.2] Đối với số tiền trong cốp xe của bà Nguyễn Thị T2 1.560.000 đồng, bà T2 yêu cầu hai bị cáo bồi thường số tiền này, hai bị cáo cũng đồng ý nên được ghi nhận.
[10.3] Đối với số tiền trong cốp xe của ông Đặng Văn D 1.550.000 đồng, ông D yêu cầu hai bị cáo bồi thường số tiền này, hai bị cáo cũng đồng ý nên được ghi nhận.
[10.4] Ông Nguyễn Đình V yêu cầu hai bị cáo bồi thường 6.000.000 đồng, ông Dương Tuấn K yêu cầu hai bị cáo bồi thường 11.000.000 đồng, ông Lê Chi D1 yêu cầu hai bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng, ông Trần Văn L1 yêu cầu hai bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng, do đây là số tiền bỏ ra để cầm, mua xe của hai bị cáo trộm cắp mà có, nay những chiếc xe này đã bị thu hồi, hai bị cáo đồng ý bồi thường nên được ghi nhận.
[11] Đối với Nguyễn Thị Bích L mua xe mô tô biển số 62D1-003.80 với giá 3.000.000 đồng, bà L không yêu cầu hai bị cáo bồi thường nên Tòa án không xem xét. Nên số tiền hai bị cáo nhận được từ bà L 3.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên bị tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[12] Đối với Nguyễn Hoài L3 mua xe mô tô biển số 62D1-025.45 và Trần Văn H mua xe mô tô biển số 62D1-059.82 từ Dương Tuấn K, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu hồi xe mô tô trên của L3, H thì K đã giao lại cho L3, H mỗi người 01 xe mô tô có giá trị tương đương với xe mô tô bị thu hồi nên không yêu cầu gì trong vụ án nên Tòa án không xem xét.
[13] Đối với hành vi của Trần Thị M, Nguyễn Huy T4, Trần Thị T5 cho T và Kiều A vay tiền với lãi suất cao, có dấu hiệu của tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tuy nhiên, hành vi của những người này xảy ra trên địa bàn thị trấn T, huyện T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V có Công văn số 128/ĐCSHS, ngày 20/04/2024 thông báo nội dung vụ việc cho Công an thị trấn T, huyện T biết để phối hợp điều tra xác minh nên Tòa án không xem xét trong vụ án này.
[14] Đối với Nguyễn Đình V, Dương Tuấn K, Lê Chi D1, Nguyễn Thị Bích L có hành vi cầm và mua các xe mô tô do bị cáo T và bị cáo Kiều A trộm được, nhưng V, K, D1, L không có bàn bạc hay hứa hẹn trước khi cầm và mua xe cũng như không biết những xe này do T và Kiều A trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
[15] Về án phí: Bị cáo Lê Văn T thuộc trường hợp hộ nghèo nên được miền tiền án phí. Bị cáo Trần Thị Kiều A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Trần Thị Kiều A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm p, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước (từ ngày 05/01/2024-23/02/2024), thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành hình phạt.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Kiều A 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành hình phạt.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ đen, dung tích xi lanh 109cm³, năm sản suất 2011, đã qua sử dụng, số khung RLHJC4312BY616133, số máy JC43E1630046.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, Màu đen đã qua sử dụng, kiểu máy CPH2073, RAM 04 GB, số Imel 860646040644279, số Imel 860646040644261, số sê-ri A6FUEQ8SHIKNWWP gắn sim số 0367843727.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xanh đen, số Model V6216, gắn 02 sim, sim 1 số 0374162336, sim 2 số 0398214435.
- + 01 chìa khóa bằng kim loại cỡ 10,
- + 01 ống điếu bằng kim loại cỡ 10,
- + 01 con dao thái lan cán vàng, mũi nhọn, dài 20,5 cm, lưỡi 11cm, cán dài 9,5 cm, 01 bề sắc.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 biển số 61B1-80.002,
- + 01 biển số xe 60T1 - 5202,
- + 01 bịch bột ớt khô màu đỏ bỏ vào trong bịch ni lông, cân nặng 40gram,
- + 01 bịch ni lông màu xanh đã qua sử dụng dùng để đựng áo khoác và bột ớt,
- + 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, có tên Hoa Binh M1,
- + 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu xám,
- + 01 áo khoác nỉ lông màu xanh dương đậm, hiệu DESIGN STYLE, túi áo có dòng chữ SPORTS SPORT,
- + 01 áo khoác bằng vải màu xanh dương nhạt, có mũ trùm đầu,
- + 01 áo khoác màu hồng, hiệu HODIE có mũ trùm đầu,
- + 01 áo khoác Jean màu xanh đã qua sử dụng,
- + 01 mũ bảo hiểm màu đen viền đỏ, trên mũ có ghi Công ty TNHH T8,
- + 02 cái bao tay màu trắng hình dạng con mèo.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Văn T:
- + 01 giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Lê Văn T.
- + 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn T.
- Các vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.
- - Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Thị Kiều A phải nộp 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Thị Kiều A có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho các ông bà:
- + Bồi thường cho bà Nguyễn Thị T2 số tiền 1.560.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
- + Bồi thường cho ông Đặng Văn D số tiền 1.550.000 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- + Bồi thường cho ông Nguyễn Đình V số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
- + Bồi thường cho ông Dương Tuấn K số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
- + Bồi thường cho ông Lê Chi D1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- + Bồi thường cho ông Trần Văn L1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn T được miễn tiền án phí.
Buộc bị cáo Trần Thị K1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 668.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị The |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T, Trần Thị Kiều A phạm tội "Trộm cắp tài sản"
