|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 16-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI -TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Xiềng và bà Nguyễn Thị Mý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS, ngày 22/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS, ngày 02/7/2024 đối với các bị cáo:
-
Lê Thanh L (tên gọi khác: Không có), sinh năm 1964 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố G, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 15/7/2022. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh M (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1 (đã chết); bị cáo có có vợ là Nguyễn Thị C, sinh năm 1969; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1997.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Thị C (tên gọi khác: M2), sinh năm 1969 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố G, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 08/7/2022. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1948 và bà Hà Thị C1, sinh năm 1947; bị cáo có chồng là Lê Thanh L, sinh năm 1964, bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1997.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Bình S, sinh năm 1965; địa chỉ: làng O xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người làm chứng:
- - Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- - Ông Trần Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 10/6/2017 vợ chồng ông Lê Thanh L và bà Nguyễn Thị C có đến nhà ông Nguyễn Bình S và đặt vấn đề cắt cà phê non (tức là vợ chồng ông L ứng tiền trước của ông S rồi đến mùa cà phê sẽ trả bằng cà phê cho ông S) thì ông S đồng ý. Vợ chồng ông L đã cắt 6 tấn cà phê tươi và ứng số tiền 48.000.000 đồng, ông L có viết giấy nhận nợ ông S và hẹn ngày 10/12/2017 sẽ trả cà phê, vợ chồng ông L kí tên vào giấy nhận nợ và đưa giấy cho ông S giữ. Sau đó ông L một mình đi ứng trước tiền của ông S thêm ba lần và viết các giấy nhận nợ, cụ thể: 01 lần ghi thêm ở dưới tờ giấy ghi ngày 10/6/2017 là cắt cho ông S 01 tấn cà phê nhân hẹn ngày 10/12/2017 sẽ trả và có chữ kí của ông L; 01 tờ giấy ghi ngày 23/8/2017 cắt cho ông S 03 tấn cà tươi giá 8.000₫ bằng 24.000.000đ hẹn đến mùa cà trả và có chữ kí của ông L; 01 tờ giấy không ghi ngày tháng bán cho ông S 01 tấn cà nhân hẹn đến mùa cà năm 2017 sẽ trả có chữ kí của ông Lê Thanh L và vợ là Nguyễn Thị C (ông L tự kí thêm tên vợ là Nguyễn Thị C). Các lần ứng tiền trên ông L đều về nói lại cho bà C biết. Sau khi ứng tiền về thì ông L và bà C đã sử dụng tiền trên để trả lãi cho Ngân hàng và chi tiêu trong gia đình hết. Đến lần chốt nợ cuối thì ông L và bà C chốt đã ứng của ông S tổng số tiền 138.000.000₫, qui đổi ra số cà phê phải trả cho ông S là 9 tấn cà phê tươi và 02 tấn cà phê nhân,
vợ chồng ông bà thống nhất với ông S là không trả bằng cà phê mà trả bằng tiền nên ngày 07/10/2017 ông L viết giấy nhận nợ ông S ghi ngày 18/8/2017 (ghi theo âm lịch) với số tiền 160.000.000đ, lãi suất 2%/tháng, hẹn ngày 30/01/2018 sẽ trả đủ cả gốc và lãi (số tiền 160.000.000đ là quy ra giá thị trường tại thời điểm đó của 9 tấn cà phê tươi và 02 tấn cà phê nhân), vợ chồng ông L, bà C cùng kí vào giấy nhận nợ và đưa cho ông S giữ.
Do không có khả năng trả nợ nên rạng sáng ngày 18/01/2018 ông L và bà C đã bàn nhau lén lút, bí mật bỏ trốn khỏi nơi cư trú và không thông báo cho chính quyền địa phương và ông S biết. Qúa trình bỏ trốn trong đêm của vợ chồng ông L bị ông S phát hiện, khi ông S chạy đến nhà ông L thì thấy ông L lái xe mô tô kéo theo thùng đồ cá nhân đang bỏ chạy về hướng làng D, xã I, huyện I thì ông S có đuổi theo và yêu cầu ông L quay lại giải quyết chuyện nợ nần, ông L quay xe về lại nhà, sau đó bỏ xe mô tô cùng đồ dùng cá nhân trước cổng rồi trèo vào nhà và lẻn ra cửa sau rồi bỏ chạy, ông S có đuổi theo nhưng chạy được một đoạn thì mất dấu. Sau đó ông L và bà C thay đổi số điện thoại, cắt đứt liên lạc với ông S nhằm mục đích không trả tiền cho ông S và chuyển đến sống tại phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ngày 14/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I đã ra Quyết định truy nã đối với Lê Thanh L. Đến ngày 26/12/2023 qua công tác vận động thì ông Lê Thanh L đã ra đầu thú tại Công an huyện I và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngày 22/02/2024 bà Nguyễn Thị C đã ra trình diện và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 03/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận:
- “1. Chữ kí, chữ viết trên các mẫu cần giám định (kí hiệu từ A1 đến A4) (trừ chữ kí, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị C” trên mẫu cần giám định kí hiệu A1, “nguyễn thị chuyên”trên mẫu cần giám định kí hiệu A2, “nguyễn thị mến” trên mẫu cần giám định kí hiệu A4) so với chữ kí, chữ viết của Lê Thanh L trên các mẫu so sánh (kí hiệu từ M1 đến M13) do cùng một người viết ra.
- 2. Chữ kí, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị C” dưới mục “vợ” trên mẫu cần giám định (kí hiệu A1) so với chữ kí, chữ viết của Nguyễn Thị C trên các mẫu so sánh (kí hiệu M1 đến M13) không phải do cùng một người kí và viết ra.
- 3. Chữ kí, chữ viết họ tên “nguyễn thị chuyên” dưới mục “Người làm giấy ngày 21/12/2014” trên mẫu cần giám định (kí hiệu A2) so với chữ kí, chữ viết của Nguyễn Thị C trên các mẫu so sánh (kí hiệu M1 đến M13) do cùng một người kí và viết ra.
- 4. Không đủ cơ sở kết luận chữ kí, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị M3” dưới mục “vợ” trên mẫu cần giám định (kí hiệu A4) so với chữ kí, chữ viết của Nguyễn Thị C trên các mẫu so sánh (kí hiệu M1 đến M13) do cùng một người kí và viết ra hay không.”
Tại Bản Kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh G kết luận:
“Chữ kí, chữ viết họ tên “nguyễn thị mến” dưới mục “vợ” trên mẫu cần giám định (kí hiệu A) so với chữ kí, chữ viết của Nguyễn Thị C trên các mẫu so sánh (kí hiệu từ M1, M2, M3) do cùng một người kí và viết ra”.
Quá trình điều tra còn xác định các lần nhận nợ của ông Lê Thanh L và bà Nguyễn Thị C cụ thể:
Vào ngày 29/03/2016 ông Lê Thanh L còn nhận số tiền cọc đất 40.000.000₫ của anh Trần Văn T. Do không chuyển nhượng đất được nên vào ngày 15/12/2017 ông L đã viết giấy trả lại tiền cọc và bồi thường số tiền 60.000.000₫ cho anh T. Tuy nhiên trước đi bỏ đi khỏi địa phương thì giữa ông L và anh T có thỏa thuận việc ông L vẫn để anh T canh tác trên đất và khi nào có tiền sẽ trả cho anh T thì anh T trả lại đất trên. Hiện nay gia đình ông L và bà C đã trả số tiền 60.000.000đ cho anh T và anh T không có yêu cầu gì thêm.
Ngày 20/6/2014 ông Lê Thanh L và bà Nguyễn Thị C có mượn của ông Nguyễn Thành T1 (sinh năm: 1960, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai; hiện đã chết) và vợ là bà Hoàng Thị N số tiền 70.000.000đ, hẹn ngày 20/12/2014 sẽ trả và có thế chấp cho ông T1 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04265 do Ủy ban nhân dân huyện C3 ngày 06/01/2011. Đến hẹn trả nợ do không có khả năng trả nên ông L và bà C đã viết giấy sang nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông T1, vì không muốn lấy thửa đất trên nên ông T1 chưa đi làm thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất và hai bên có thỏa thuận sẽ để cho ông L tiếp tục canh tác trên đất khi nào có tiền trả nợ thì ông T1 và bà N sẽ trả lại bìa đỏ cho ông L. Hiện bà N đã khởi kiện dân sự ra Tòa án huyện I.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS, ngày 21 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản “ theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản “.
- - Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- - Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Thanh L từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng đến 60 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thanh L và bị cáo Nguyễn Thị C bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của ông Nguyễn Bình S số tiền 160.000.000 đồng. Ông Nguyễn Bình S đã nhận tiền bồi thường và tại phiên tòa không có yêu cầu khác về dân sự. Đã giải quyết xong nên không đề cập.
Ông Nguyễn Bình S xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo L và bị cáo C.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C như sau: Trong tháng 6 và tháng 8 năm 2017 Lê Thanh L và Nguyễn Thị C đã đến nhà ông Nguyễn Bình S tại làng O, xã I, huyện I để cắt cà phê non ứng tiền trước của ông S tất cả 9 tấn cà phê tươi và 02 tấn cà phê nhân với tổng số tiền 138.000.000 đồng. Đến hẹn trả nợ vì không có khả năng trả nên vào rạng sáng ngày 18/01/2018 ông L và bà C đã lén lút, bí mật bỏ trốn đến nơi khác để sinh sống và cắt đứt toàn bộ liên hệ với ông S nhằm mục đích không trả nợ cho ông S.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Nhận thức được việc mình làm là vi phạm pháp luật. Hành vi đó đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do đó việc truy tố các bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C về tội Lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng tính chất giản đơn. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau để thực hiện tội phạm. Trong vụ án này, Lê Thanh L có vai trò chính, là người trực tiếp nhận tiền, khởi xướng bàn về phương án bỏ trốn, chuẩn bị phương tiện; bị cáo Nguyễn Thị C tham gia với vai trò đồng phạm, là người tham gia ký giấy nhận nợ, nhận tiền và cùng bỏ trốn nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C đều có nhân thân tốt
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ theo yêu cầu bị hại. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo L và C đều đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội các bị cáo đều ra đầu thú, tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Các bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét đề nghị áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo Lê Thanh L ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp, đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Đối bị cáo Nguyễn Thị C có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam cũng không làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cho bị cáo Nguyễn Thị C được hưởng án treo giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục.
[6] Đối với việc vay mượn tiền giữa vợ chồng ông Lê Thanh L, bà Nguyễn Thị C với anh Trần Văn T, ông Nguyễn Thành T1 và bà Hoàng Thị N là thỏa thuận dân sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không xem xét xử lý hình sự đối với hành vi trên của ông L và bà C là có căn cứ nên không đề cập.
Đối với anh Lê Văn H là con ruột của bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C, là người trực tiếp trả tiền cho ông Trần Văn T. Tại phiên tòa anh H không có yêu cầu hay đề nghị gì. Trường hợp có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[7] Về dân sự: Đã bồi thường xong nên không đề cập.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/12/2023.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị C cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú là Ủy ban nhân dân thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,
Buộc bị cáo Lê Thanh L và Nguyễn Thị C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 16/7/2024) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Hà |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TP.HÀ
