TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 15-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Cao Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Kim Sơn
- 2. Ông Nguyễn Xuân Ký
Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H - sinh ngày: 01/11/1995, tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1970; con bà: Phạm Thị L, sinh năm 1973; có vợ là: Nguyễn Thị Lâm O, sinh năm 1998; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 04/02/2024, sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị N - sinh năm: 2000
Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị G - sinh năm: 1996
Nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, trú tại Phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã nảy sinh ý định sử dụng mạng xã hội Facebook, Z để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 25/01/2024, Huế vào mạng xã hội Facebook bằng tài khoản “Nguyễn Văn H” của mình, tìm kiếm các bài viết về việc chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng thì thấy tài khoản “Nguyễn Thị G” của chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã T, huyện N đăng bài viết “Em cần 20 triệu tài khoản để giao dịch. Có ai đang cần đổi tiền mặt thì mình đổi đi ạ. E đang đi làm nên không tiện vào ngân hàng”, xem trong mục bình luận thì thấy tài khoản “Ngoan Nguyễn” của chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2000, trú tại khu phố P, thị trấn Y, huyện N bình luận “cầm qua bàn cân an ck cho c”, tài khoản “Nguyễn Thị G” trả lời “Ok gái nha”; tiếp tục mở tài khoản “Ngoan N1” thì tìm được số điện thoại đăng ký là 0397.221.xxx. Biết chị G và chị N đang trao đổi về việc chị G sẽ đưa số tiền mặt 20.000.000 đồng cho chị N để được chị N chuyển lại số tiền tương ứng vào tài khoản ngân hàng của chị G nên H đã đổi tên tài khoản Zalo của mình (tài khoản này H khai mua trên mạng) thành “Nguyễn Thị G”, giả làm chị G để kết bạn với tài khoản Z “Ngoan Nguyễn” đăng ký bằng số điện thoại 0397.221.xxx của chị N nhằm mục đích làm cho chị N nhầm tưởng Huế là chị G để yêu cầu chị N chuyển tiền theo thỏa thuận trên mạng Facebook. Sau đó, H tự nghĩ ra một tài khoản ngân hàng tên Nguyễn Thị G nhưng không có thật, rồi nhắn tin yêu cầu chị N chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản này. Sau lần đầu chị N chuyển tiền thất bại, Huế cung cấp số tài khoản ngân hàng B tên Nguyễn Viết T cho chị N (là tài khoản sử dụng để nạp tiền vào game đánh bạc trực tuyến GAMVIP do tài khoản telegram “C1 Minh Anh K” gửi cho H). Nhận được số tiền chị N chuyển, Huế chặn liên lạc, chiếm đoạt số tiền này của chị N.
Về phần chị Nguyễn Thị N, khi được H yêu cầu chuyển tiền, do nghĩ đây là tài khoản do chị G cung cấp để đổi tiền nên chị N đã chuyển vào số tài khoản trên số tiền 20.000.000 đồng, sau đó, khi liên hệ với chị G để hỏi về việc chuyển tiền thì mới biết bản thân bị lừa, chị N đã trình báo sự việc với cơ quan Công an để giải quyết theo quy định.
Quá trình điều tra, sau khi xác minh được các thông tin liên quan, Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn H để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên, đồng thời tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt được cho chị Nguyễn Thị N.
Về việc thu giữ, tạm giữ, xử lý đồ vật, tài liệu, vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 0364369999 do bị cáo tự nguyện giao nộp khi đầu thú;
- - 01 (một) bộ máy tính để bàn, gồm: 01 CPU màu đen, trên thân có in dòng chữ SAMA; 01 màn hình màu đen, nhãn hiệu DELL, thu giữ khi khám xét chỗ ở của bị cáo;
- - Số tiền 20.000.000 đồng bị cáo tự nguyện giao nộp để bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị N.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền 20.000.000 đồng. Các vật chứng, tài sản còn lại đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKSNX ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại - chị Nguyễn Thị N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
- - Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
- + Tịch thu, giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được được sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng; 01 (một) bộ máy tính để bàn, gồm: 01 CPU màu đen, trên thân có in dòng chữ SAMA, 01 màn hình màu đen, nhãn hiệu DELL;
- + Tịch thu tiêu hủy đối với thẻ sim số 0364369999;
- + Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bị cáo tự nguyện giao nộp để bồi thường thiệt hại cho bị hại: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả cho bị hại chị Nguyễn Thị N số tiền 20.000.000 đồng này. Việc xử lý tài sản, vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thống nhất với luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các dữ liệu trên các tài khoản mạng xã hội Facebook, Z có liên quan, phù hợp với kết quả sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:
Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/01/2024, sau khi tìm kiếm thông tin và biết được tài khoản Facebook “Nguyễn Thị G” của chị Nguyễn Thị G và tài khoản Facebook “Ngoan N1” của chị Nguyễn Thị N đang có thỏa thuận đổi tiền mặt lấy tiền trong tài khoản ngân hàng, Nguyễn Văn H đã sử dụng thủ đoạn gian dối, đổi tên tài khoản Zalo thành “Nguyễn Thị G” kết bạn với tài khoản Z “Ngoan Nguyễn” của chị N, làm cho chị N nhầm tưởng tài khoản này là của chị Nguyễn Thị G, sau đó yêu cầu chị N chuyển số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng do H cung cấp, chiếm đoạt số tiền này của chị N.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H dùng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng của bị hại chị Nguyễn Thị N đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, tuy có tính chất ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị N toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt được là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng:
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 0364369999; 01 (một) bộ máy tính để bàn, gồm: 01 CPU màu đen, trên thân có in dòng chữ SAMA; 01 màn hình màu đen, nhãn hiệu DELL, là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu chiếc điện thoại di động và bộ máy tính để bàn này, giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được được sung vào ngân sách nhà nước; đối với thẻ sim số 0364369999 thì tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bị cáo tự nguyện giao nộp để bồi thường thiệt hại cho bị hại: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng này. Việc xử lý tài sản, vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vấn đề khác:
- - Trong quá trình điều tra, bị cáo khai sử dụng toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của bị hại để nạp vào tài khoản đánh bạc trực tuyến trên ứng dụng GAMVIP và thua hết, nhưng không cung cấp được các thông tin liên quan, không đăng nhập lại được vào tài khoản game nên không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với người đứng tên tài khoản ngân hàng B số 19910000897538 mà bị cáo cung cấp cho bị hại: Quá trình điều tra, bị cáo khai đây là số tài khoản do tài khoản telegram “C1” cung cấp cho bị cáo để chuyển tiền nạp vào tài khoản đánh bạc trực tuyến trên ứng dụng GAMVIP, nhưng không cung cấp được các thông tin khác có liên quan. Cơ quan điều tra xác định người này là Nguyễn Viết T, sinh năm 1988, trú tại Thôn B Hồ N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, nhưng hiện anh T đã đi khỏi địa phương, không xác định được ở đâu nên chưa làm rõ được việc lập, đăng ký, sử dụng tài khoản ngân hàng nêu trên của anh T. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh và xử lý khi có đủ căn cứ; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự,
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
- + Tịch thu, giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được được sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng; 01 (một) bộ máy tính để bàn, gồm: 01 CPU màu đen, trên thân có in dòng chữ SAMA, 01 màn hình màu đen, nhãn hiệu DELL;
- + Tịch thu tiêu hủy đối với thẻ sim số 0364369999.
(Toàn bộ số vật chứng, tài sản nêu trên đã được niêm phong, hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 31/2024/TSTV ngày 02/7/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân).
- - Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cao Cường |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Kim Sơn | Nguyễn Xuân Ký | Lê Cao Cường |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
