|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 07 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh và bà Long Thị Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Huyền Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Triệu Minh H (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 27/3/19xx tại xã L (Nay là xã V), huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn R, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (Học vấn) lớp 8/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định, cha dượng: Nguyễn Đình N và bà Triệu Thị K; có vợ là Triệu Thị T; con: 01 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo là bà Đỗ Thị Xuân, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, theo Quyết định số 115/QĐ-TGPL ngày 02/5/2024 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn về việc cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, (Có mặt);
- Bị hại: Anh Triệu Văn S, sinh năm 19xx, (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là ông Sầm Đức Tùng, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, theo Quyết định số 178/QĐ-TGPL ngày 04/7/2024 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn về việc cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, (Có mặt);
- Người có quyền lợi liên quan:
1
- + Bà Triệu Thị K, sinh năm 19xx (Vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 19xx (Vắng mặt)
Địa chỉ: Cùng trú tại thôn R, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- + Chị Triệu Thị T1, đồng thời là người làm chứng, sinh năm 19xx (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Người làm chứng:
- + Anh Triệu Văn T2, sinh năm 19xx, (Vắng mặt).
- + Chị Triệu Thị L (Tên gọi khác: Triệu Thị L1), sinh năm 19xx (Vắng mặt).
- + Bà Triệu Thị P, sinh năm 19xx (Vắng mặt).
Địa chỉ: Cùng trú thôn R, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 31/01/2024, Triệu Minh H cùng Triệu Văn T2 đến nhà chị Triệu Thị L chơi, uống rượu, hát karaoke. Khi đến nhà chị L thì có anh Triệu Văn C. Khoảng 20 giờ cùng ngày chị L, Triệu Thị B đến cùng tham gia hát karaoke, uống rượu. Một lúc sau, anh Triệu Văn S và ông Nguyễn Đình N đến nhà chị L chơi, cùng uống rượu, hát karaoke. Trong lúc uống rượu, hát karaoke thì S say rượu và nôn ra nhà chị L. Khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, ông N đi về trước, một lúc sau anh S cầm một chiếc mũ bảo hiểm một mình đi bộ về. Sau khi anh S về được một lúc thì H và anh T2 cùng nhau đi về; khi đi trên đoạn đường bê tông liên thôn được một đoạn anh H và anh T2 gặp S ở đường, anh H soi đèn pin vào anh S nhưng không rõ là ai nên H hỏi anh T2 “Ai đây”, anh T2 nói “S mà”, khi đó H mới biết là anh S, rồi anh T2 đi đường rẽ về nhà ngủ. H đi tiếp được một đoạn thì anh S đi theo phía sau H nói gì đó, nhưng nghe không rõ. H tiếp tục đi được khoảng 10m thì S đi theo sau nói “Tao đánh thật”, S cầm mũ bảo hiểm đánh vào lưng H, H hỏi “Sao lại đánh tao”, S tiếp tục cầm một đoạn cây đánh về phía H thì H giơ chân lên đỡ trúng vào mu bàn chân trái H, rồi S định đánh tiếp thì H chạy về phía nhà H, S đuổi theo sau qua cầu bê tông đến gần nhà H thì S dừng lại đứng ở đầu cầu không đuổi theo H nữa, H gọi mẹ là bà Triệu Thị K mở cửa bếp đi vào nhà.
Sau khi đi vào trong bếp, bà K đóng cửa bếp, lúc đó H thấy 01 chiếc dao quắm bằng kim loại, chuôi dao tra cán gỗ để trên bao thóc gần cửa bếp nên H cầm dao này đi từ bếp vào trong nhà sàn ra hướng cửa chính, mở cửa nhà đi cầu thang xuống, cầm đèn pin soi thấy anh S đang đứng ở đầu cầu bê tông dưới nhà. Thấy H soi đèn pin quay lại anh S bỏ chạy theo đường bê tông hướng đi trung tâm xã V, H cầm đèn pin và dao đuổi theo. Chạy được khoảng 100m thì anh S chạy vào một bãi đất trống bên trái đường thì H đuổi kịp rồi lao người vào anh S làm anh S bị đẩy ra quay lưng lại phía H, lúc này H cầm dao bằng tay phải chém một phát từ phải qua trái, từ ngoài vào trong trúng vào cánh tay phải của anh S; dùng sống dao đập 02 phát vào lưng; dùng chân đạp vào người anh S. Sau đó, anh S tiếp tục bỏ chạy theo hướng trung tâm xã V, thấy mũ bảo
2
hiểm của anh S rơi ở đó H dùng dao chém 01 phát vào mũ bảo hiểm rồi cầm dao quay về nhà, để dao trong bếp đi ngủ. Còn anh S đi đường tắt về nhà mẹ anh S ở gần đó băng bó vết thương. Sáng ngày 01/02/2024, anh S đến trình báo Công an xã V rồi đi đến Trung tâm y tế huyện N điều trị.
Ngày 01/02/2024, Công an xã V thu giữ 01 con dao của Triệu Minh H giao nộp đã dùng để chém anh S tối ngày 31/01/2024. Tiến hành kiểm tra xác định con dao H giao nộp là loại dao quắm bằng kim loại có tra cán gỗ, chiều dài 50 cm, trong đó: Phần lưỡi dao dài 22cm, bản dao phần rộng nhất 10,7cm, cán dao bằng kim loại tròn dài 10,5cm; phần gỗ thò ra ngoài dài 17,5cm.
Ngày 02/02/2024, tại khu vực đường liên thôn R, xã V, huyện N – C, xã T, huyện N, Cơ quan Công an tiến hành truy tìm đoạn cây anh S dùng đánh anh H tối ngày 31/01/2024. Xác định tại khu vực này có nhiều đoạn cây dạng dây leo, cây thân gỗ thân tròn, thân dẹt với nhiều kích thước khác nhau. Kết quả không xác định được đặc điểm đoạn cây anh S dùng đánh vào chân H nên không thu giữ được.
Ngày 27/02/2024, Cơ quan điều tra thu giữ các đồ vật của Triệu Văn S sử dụng tối ngày 31/01/2024: 01 chiếc mũ bảo hiểm, trên mũ có một vết cắt dài 07cm; 01 chiếc áo khoác màu đen, tay áo bên phải có một vết cắt thủng dài 6,5cm; 01 chiếc áo khoác màu trắng có hoa văn màu đen, mặt ngoài có lông, tay áo bên phải có một vết cắt thủng dài 06cm.
Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Triệu Văn S ngày 01/02/2024 tại Trạm y tế xã V, huyện N thể hiện: 01 vết rách da vùng khuỷu tay phải dài 06cm, rộng 02cm, sâu 01cm; vùng lưng có vết bầm tím rộng 01cm; 01 vết xây xát da dài 01cm tại đốt giữa ngón út bàn tay trái.
Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Triệu Minh H ngày 01/02/2024 tại Công an xã V, huyện N thể hiện: Tại mu bàn chân trái trên diện 5cm x 5cm bị sưng nề đỏ tấy.
Bệnh án ngoại khoa của Trung tâm y tế huyện N, số vào viện 474 đối với Triệu Văn S thể hiện: Vào viện lúc 18 giờ 00 phút ngày 01/02/2024, ra viện lúc 08 giờ 00 phút ngày 07/02/2024; kiểm tra rách đứt cân, cơ; phiếu chụp X-Quang ngày 02/02/2024 hình ảnh rạn mặt sau đầu xương cánh tay phải; chẩn đoán ra viện vết thương 1/3 dưới mặt ngoài cánh tay phải, rạn xương.
Ngày 19/02/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Triệu Văn S và Triệu Minh H lần lượt số: 71/QĐ-ĐTTH và số 72/QĐ-ĐTTH .
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 40/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 23/02/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế tỉnh Bắc Kạn kết luận đối với Triệu Văn S:
- - Gãy đầu dưới xương cánh tay phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%;
- - Sẹo 1/3 dưới mặt ngoài cánh tay phải, kích thước 4 cm x 0,1cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 0,79%.
- - Sẹo đốt 2 ngón V tay trái, kích thước 1,2cm x 0,2cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 0,78%;
3
- - Tay phải: Tại thời điểm giám định tay ở tư thế cơ năng, còn đau, hạn chế cử động; kết quả ghi điện cơ: Hiện tại dẫn truyền vận động và cảm giác dây thần kinh chi trên hai bên trong giới hạn bình thường.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Triệu Văn S tại thời điểm giám định là 22,57%, làm tròn số là 23%. Cơ chế hình thành vết thương: Do vật sắc tác động trực tiếp.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 41/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 21/02/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế tỉnh Bắc Kạn kết luận đối với Triệu Minh H: Tại mu bàn chân trái không có thương tích, không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Triệu Minh H tại thời điểm giám định là 0%.
Trong giai đoạn điều tra:
- Bị hại Triệu Văn S yêu cầu Triệu Minh H phải bồi thường tổng số tiền 50.000.000,₫ (Thực tế là 49.900.000₫) gồm: Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, thu nhập bị mất 22.800.000,đ; tổn thất về sức khỏe, tinh thần 25.000.000,đ; 01 mũ bảo hiểm: 300.000đ; 02 chiếc áo 800.000đ; tiền con đưa đón là 1.000.000 đ.
- Triệu Minh H khai nhận: H và S có quen biết nhau. Trước ngày 31/01/2024, giữa H và S không có mâu thuẫn gì. H cho biết S thường uống rượu, có lúc gây sự với mọi người trong thôn. H cho rằng tối ngày 31/01/2024, H có dùng đèn pin soi vào anh S khi gặp nhau ở đường liên thôn làm S bực trong khi đang say rượu, dẫn đến hai người xô xát, S là người đánh H trước. Sau khi bị S đánh, H đã chạy về nhà thấy bực tức và cầm dao ở trong bếp quay lại đuổi theo chém, đánh anh S gây thương tích. Bản thân H không có tiền án, tiền sự. Về trách nhiệm dân sự, H chưa bồi thường được khoản tiền nào cho bị hại.
Ngày 05/6/2024, Công an huyện N đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ-XPHC đối với Triệu Văn S bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh Triệu Minh H tối ngày 31/01/2024.
Lời khai nhận của Triệu Minh H và Triệu Văn S phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Vật chúng của vụ án gồm:
- - 01 chiếc dao bằng kim loại có tra cán gỗ, loại dao quắm, chiều dài 50cm, trong đó: Phần lưỡi dao dài 22cm, bản dao phần rộng nhất 10,7cm, cán dao bằng kim loại tròn dài 10,5cm, phần cán gỗ thò ra dài 17,5cm.
- - 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu xanh trắng, phía trước mũ có chữ: Amby; phía sau mũ có chữ Sport; kính chắn gió bị vỡ một phần, trên mũ bị tróc sơn loang lổ màu trắng, bên trái đỉnh mũ có một vết cắt dài 7cm;
- - 01 chiếc áo khoác màu đen, phía trước bên ngực trái có chữ M, tay áo bên phải có 01 vết cắt thủng dài 6,5cm và 01 chiếc áo khoác màu trắng có hoa văn màu đen, mặt ngoài áo có lông, tay áo bên phải có một vết cắt thủng dài 06cm. Hai chiếc áo đựng trong một túi nilon có niêm phong.
Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.
4
Đối với đoạn cây anh S sử dụng để đánh H, cơ quan Công an đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Với các tình tiết trên, tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKSNR ngày 26/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử Triệu Minh H về: "Tội cố ý gây thương tích" theo điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015).
* Tại phiên tòa:
- Triệu Minh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của H tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố. Ngoài ra tại phiên tòa H còn khai nhận, do đang đi cùng hướng với anh S trên đường về nhà và trời tối nên khi thấy có người phía trước đã soi đèn pin vào người anh S chứ không soi đèn pin vào mặt anh S. H cũng không gây sự với anh S nên khi bị anh S đuổi đánh đã không kiềm chế được hành vi dẫn đến việc H về nhà lấy dao đuổi chém anh S. Khi chém anh S thì không nhằm vào khu vực trọng yếu trên cơ thể của anh S và không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của anh S. Tay thuận của H là tay phải. Sau khi S bỏ chạy thì H không đuổi theo anh S nữa. Khi thấy chiếc mũ bảo hiểm của anh S để lại tại hiện trường, do chưa hết bực tức nên H đã dùng dao chém chiếc mũ bảo hiểm của anh S theo bản năng chứ không nhằm mục đích hủy hoại hay cố ý làm hư hỏng tài sản của anh S; bản thân H cũng chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; cha mẹ, người thân thích trong gia đình H không có ai được Nhà nước khen thưởng, tặng thưởng gì. Trong quá trình điều tra, thì ngoài chiếc dao đã giao nộp thì cơ quan điều tra không thu, tạm giữ tài liệu, đồ vật gì khác và không có yêu cầu gì với chiếc dao.
Về hình phạt: Bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, một mình nuôi con nhỏ (08 tháng tuổi) do vợ H phải đi làm việc ở xa; gia đình thuộc hộ nghèo, kinh tế còn khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo nhất trí bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại mà Đại diện Viện Kiểm sát đã đề nghị tại phần tranh luận.
Về án phí: Do là hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên xin được miễn toàn bộ án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị hại anh Triệu Văn S trình bày toàn bộ hành vi của bản thân với Triệu Minh H và hành vi phạm tội của bị cáo đối với S đúng như lời khai của S tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N. Ngoài ra anh S còn cho biết, tại thời điểm xảy ra xô xát thì không có ánh trăng, trời tối. Sau khi ra về từ nhà chị L được một đoạn thì anh ngồi ở đường để nôn thì bị H soi đèn pin vào mặt anh S và dùng tay đánh vào đầu nên đã xảy ra xô xát đánh nhau. Đối với tài sản gồm 01 chiếc mũ bảo hiểm được anh S mua mới với giá 300.000 đồng và không có giá trị, ý nghĩa gì về tinh thần đối với anh S, chiếc mũ bảo hiểm chỉ bị hư hỏng phần kính bảo hiểm từ lúc H dùng dao chém vào mũ do S để lại và không bị hư hỏng gì thêm; 03 chiếc áo, thì có chiếc áo mặc ở trong cùng đã bị dao chém rách và được bác sỹ cắt bỏ khi điều trị tại Trung tâm y tế huyện N nên anh S không lấy về; còn hai chiếc áo còn lại đang bị tạm giữ được anh S mua với giá 800.000 đồng, anh S không yêu cầu H phải bồi thường và không
5
yêu cầu phải định giá tài sản. Còn vết thương ở ngón tay út bàn tay trái thì anh S không rõ vì sao bị vết thương này và bị lúc nào vì khi dùng mũ bảo hiểm đánh H, anh S không bị thương ở ngón út bàn tay trái và từ sau khi bị H chém cho đến trước thời điểm Công an xã lập biên bản xem xét dấu vết trên thân thể thì anh S không bị ngã hay xô xát với ai để bị thương ở ngón tay út bàn tay trái. Ngoài ra anh S còn trình bày ngày công lao động làm thuê của anh trước khi xảy ra xô xát tối ngày 31/01/2024 là 250.000 đồng/ngày. Anh S không có khiếu nại gì với quyết định xử phạt vi hành chính đối với anh.
Về trách nhiệm hình sự: Anh nhất trí với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc xử phạt tù Triệu Minh H nhưng cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh S nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 30.000.000 đồng cho thiệt hại về sức khỏe và tinh thần cho anh S. Đối với chiếc mũ bảo hiểm thì không có yêu cầu gì; đối với 02 chiếc áo thì xin được lấy lại.
- Chị Triệu Thị T1 trình bày: Chị T1 là vợ của anh H. Ngày công lao động làm thuê của chị T1 trước khi xảy ra xô xát tối ngày 31/01/2024 giữa H với chồng chị là 250.000 đồng/ngày. Khi chị cầm chiếc mũ bảo hiểm của chồng chị để lại tại hiện trường về nhà bà P thì chiếc mũ đã bị hỏng phần kính bảo hiểm của mũ.
- Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi là bà Triệu Thị K và ông Nguyễn Đình N trình bày: Bà K là mẹ đẻ và ông N cha dượng của Triệu Minh H. Đối với chiếc dao quắm mà Triệu Minh H sử dụng để gây thương tích cho người khác là tài sản chung của gia đình. Nay, bà K, ông N không có ý kiến gì đối với chiếc dao quắm mà H đã sử dụng vào việc chém anh S. Ngoài ra họ không có ý kiến gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt chị Triệu Thị L và anh Triệu Văn T2 trình bày toàn bộ các tình tiết liên quan đến vụ án như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N. Ngoài ra không còn có ý kiến gì khác. Còn anh T2 còn cho biết: Sau thời điểm H soi đèn pin vào người S thì H không nói, chửi S mà đi về nhà thì bị S đuổi theo đánh H. Ngoài ra anh T2 không biết gì thêm.
- Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt bà Triệu Thị P trình bày: Sau khi S bị chém về nhà khoảng 02 giờ ngày 01/02/2024, đến 06 giờ cùng ngày thì bà nhờ ông Kh đến xử lý vết thương cho S và đưa S đến Trạm y tế xã V. Ngoài vết thương ở khuỷu tay phải của S thì bà không rõ S còn bị thương ở những vị trí nào khác. Từ lúc S về đến nhà đến khi S đến Công an xã V trình báo thì S chỉ ở nhà và không bị tự ngã lần nào. Ngoài ra bà không biết gì thêm.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Triệu Minh H phạm tội “Tội cố ý gây thương tích” và áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 47, các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51, 65 của BLHS 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015); các Điều 584, 585, 586, 590 của BLDS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
6
Xử phạt bị cáo: Triệu Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại với tổng số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N để bồi thường cho bị hại để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc dao; 01 chiếc mũ bảo hiểm; trả lại 02 chiếc áo cho Triệu Văn S. Miễn tiền án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Xuân, trình bày: Nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về các tình tiết khi phạm tội bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm; tội danh, điều luật, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trong đó có tình tiết do lỗi của bị hại để cân nhắc khi quyết định mức hình phạt; cho bị cáo được hưởng mức hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; đề nghị tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo với bị hại về mức bồi thường trách nhiệm dân sự và miễn tiền án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Sầm Đức Tùng, trình bày: Nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng cho bị cáo và nhất trí với với bản luận cứ bảo vệ của người bào chữa cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi liên quan và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện N, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nì, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi liên quan và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng anh Triệu Văn T2, chị Triệu Thị L, bà Triệu Thị P và người có quyền lợi liên quan là bà Triệu Thị K; ông Nguyễn Đình N vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người tham gia tố tụng có mặt và Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng tiếp tục xét xử vắng mặt họ. Hội đồng xét xử quyết định phiên tòa được tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 BLTTHS 2015.
7
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 31/01/2024, tại đoạn đường liên thôn R, xã V, huyện N – C, xã T, huyện N, phần thuộc thôn R, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã xảy ra xô xát giữa Triệu Minh H với Triệu Văn S. Trước khi xảy ra xô xát thì H và Triệu Văn S không có mâu thuẫn, thù hằn với nhau. Việc xô xát giữa Triệu Văn S với H và giữa H với anh S xảy ra bột phát chứ không có mục đích từ trước. Nguyên nhân dẫn đến xảy ra xô xát là xuất phát từ việc anh S đã không kiềm chế được hành vi của mình khi bị H soi đèn pin vào người nên đã đuổi đánh H bằng mũ bảo hiểm mang theo từ trước và bằng đoạn gậy nhặt được trên đường. Còn H sau khi bị Sinh đuổi đánh cũng không kiềm chế được hành vi của bản thân nên khi về đến nhà đã lấy chiếc dao, loại dao cắm có chuôi dao bằng cán gỗ có tổng chiều dài 50 cm quay lại đuổi chém anh S. Thời điểm H dùng dao chém anh S vào khoảng thời gian giữa đêm ngày 31/01/2024 tức ngày 21/12 âm lịch, trời tối; anh S không có đèn pin, còn H có đèn pin và chiếc dao, nên tầm quan sát và sự tương quan về công cụ, phương tiện của anh S bị hạn chế; khoảng cách và vị trí khi anh S bị H dùng dao chém thì lưng của S đang quay lại phía trước mặt H khoảng 01 tầm cánh tay của H và chiều dài phần lưỡi dao với phần cán dao bằng kim loại là 33,5cm. Tại vị trí này, H cầm dao bằng tay phải là tay thuận chém ngang một phát phần lưỡi dao từ phải qua trái, từ ngoài vào trong trúng vùng trên khuỷu tay phải của anh S rồi dùng sống dao đập 02 phát vào lưng; dùng chân đạp vào người anh S. Đối với vết thương ở ngón tay út bàn tay trái của Triệu Văn S không có đủ cơ sở kết luận bị tổn thương khi anh S đánh H và từ sau khi sự việc H dùng dao chém anh S kết thúc cho đến thời điểm lập biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 01/02/2024. Do vậy, khẳng định vết thương ở ngón tay út bàn tay trái của S là do H dùng dao gây thương tích. Đánh giá toàn diện về không gian, thời gian xảy ra xô xát; công cụ dùng để tác động vào cơ thể bị hại; chiều hướng di chuyển, lực tác động của dao, vị trí tác động và số lần dùng phần lưỡi dao tác động vào thân thể bị hại, thì xác định mục đích việc H dùng dao chém anh S là nhằm gây thương tích chứ không nhằm mục đích tước đoạt sự sống của bị hại. Hành vi H dùng dao chém anh S phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và kết quả giám định. Hậu quả của việc H dùng dao chém anh S đã gây tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Triệu Văn S tại thời điểm giám định là 22,57%, làm tròn số là 23%. Cơ chế hình thành vết thương: Do vật sắc tác động trực tiếp.
Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Triệu Minh H có đủ yếu tố cấu thành của "Tội cố ý gây thương tích". Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 BLHS 2015. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% ... nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng...hung khí nguy hiểm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến
8
06 năm:
...đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”.
Đánh giá về hành vi của Triệu Minh H dùng dao chém chiếc mũ bảo hiểm: Chiếc mũ bảo hiểm tuy là công cụ để Triệu Văn S đánh bị cáo, sau đó đã bị xử phạt vi vi phạm hành chính về hành vi này nhưng không bị tịch thu công cụ vi phạm hành chính. Tại thời điểm bị cáo H dùng dao chém chiếc mũ bảo hiểm do Triệu Văn S để lại tại hiện trường vụ án thì việc xô xát giữa bị cáo với bị hại đã kết thúc; chiếc mũ bảo hiểm không còn là vật cản đối với bị cáo và không bị hư hỏng gì thêm sau khi bị chém ngoài phần kính bảo vệ của mũ bị hỏng khi bị cáo dùng dao chém chiếc mũ bảo hiểm. Trong giai đoạn truy tố và tại phiên tòa, anh S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho chiếc mũ bảo hiểm và định giá tài sản đối với chiếc mũ bảo hiểm; chiếc mũ không có ý nghĩa gì về mặt tinh thần với anh S. Mặt khác, bản thân bị cáo cũng chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Do vậy, hành vi chém chiếc mũ bảo hiểm của Triệu Minh H không đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
[3] Xét về các tình tiết quyết định mức hình phạt:
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Khi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được Luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo thuộc hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ 08 tháng tuổi, còn vợ đi làm thuê nhưng đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 1.000.000 đồng cho bị hại và do bị cáo bị bị hại đánh trước nên bị cáo mới đánh bị hại do bị kích động về tinh thần. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục được một phần hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, được quy định tại điểm b, s, e khoản 1 Điều 51 của BLHS 2015; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của BLHS 2015. Bị hại nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát cho bị cáo được án treo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tổng hợp các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà vẫn đảm bảo mục đích giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do vậy, áp dụng Điều 65 của BLHS 2015, xử phạt tù bị cáo nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục, cải tạo bị cáo là phù hợp.
[4] Về vấn đề khác: Đối với hành vi đánh Triệu Minh H của Triệu Văn S không
9
gây hậu quả về thương tích và tổn hại đến sức khỏe của Triệu Minh H nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự và Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Triệu Văn S theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 24/QĐ-XPHC ngày 05/6/2024 là có căn cứ.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phần tranh luận, bị cáo và bị hại đã thống nhất thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại, cụ thể như sau: Bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổng số tiền là 30.000.000,₫ cho thiệt hại cho sức khỏe và tinh thần cho Triệu Văn S. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử không xem xét lỗi của bị hại trong trách nhiệm dân sự và cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên của họ và buộc bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 30.000.000,₫ cho anh Triệu Văn S là phù hợp và có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự của Triệu Văn S đối với Triệu Minh H: Do Triệu Minh H không có yêu cầu và bản thân Triệu Minh H không bị tổn thương về cơ thể; không bị thiệt hại về sức khỏe và tổn thất về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra, nên trách nhiệm dân sự của Triệu Văn S đối với Triệu Minh H không được đặt ra để xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 chiếc dao bằng kim loại có tra cán gỗ, loại dao quắm, chiều dài 50cm, trong đó: Phần lưỡi dao dài 22cm, bản dao phần rộng nhất 10,7cm, cán dao bằng kim loại tròn dài 10,5cm, phần cán gỗ thò ra dài 17,5cm được xác định là công cụ phạm tội và bà Khuyên, ông Năm, bị cáo không có yêu cầu được trả lại, nên cần tịch thu tiêu hủy;
- - 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu xanh trắng, phía trước mũ có chữ: Amby; phía sau mũ có chữ Sport; kính chắn gió bị vỡ một phần, trên mũ bị tróc sơn loang lổ màu trắng, bên trái đỉnh mũ có một vết cắt dài 7cm được bị hại không có yêu cầu lấy lại nên cần tịch thu tiêu hủy;
- - 01 chiếc áo khoác màu đen, phía trước bên ngực trái có chữ M, tay áo bên phải có 01 vết cắt thủng dài 6,5cm và 01 chiếc áo khoác màu trắng có hoa văn màu đen, mặt ngoài áo có lông, tay áo bên phải có một vết cắt thủng dài 06cm. Hai chiếc áo đựng trong một túi nilon có niêm phong được bị hại có yêu cầu lấy lại nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Số lượng, tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 03/7/2024.
Đổi với số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo bồi thường cho bị hại được bị cáo giao nộp tại Chi cục Thi Hành án dân sự huyện N nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[7] Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Minh H.
[8] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo và quan điểm của người bảo vệ
10
quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cùng quan điểm của Kiểm sát viên là giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và luận tội; các điều luật áp dụng; tội danh; mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng; biện pháp tư pháp; trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với bị hại là có căn cứ Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, 47; điểm b, s, e khoản 1 Điều 51, 65 của BLHS 2015;
Căn cứ vào Điều 106, Điều 292, 293, 331, 333 của BLTTHS 2015;
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 588; 590 của BLDS 2015
Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
[1] Về tội phạm: Tuyên bố bị cáo Triệu Minh H (Tên gọi khác: Không) phạm tội "Tội cố ý gây thương tích" .
[2] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Triệu Minh H 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 50 (Năm mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 07/8/2024).
Giao bị cáo Triệu Minh H cho UBND xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 07/8/2024). Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tinh thần bị xâm hại giữa bị cáo với bị hại về việc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại với tổng số tiền là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Buộc bị cáo Triệu Minh H phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tinh thần bị xâm hại cho anh Triệu Văn S tổng số tiền là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, khoản tiền còn phải thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015.
[4] Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 chiếc dao bằng kim loại có tra cán gỗ, loại dao quắm, chiều dài 50cm, trong đó: Phần lưỡi dao dài 22cm, bản dao phần rộng nhất 10,7cm, cán dao bằng kim loại tròn dài 10,5cm, phần cán gỗ thò ra dài 17,5cm;
- + 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu xanh trắng, phía trước mũ có chữ:
11
Amby; phía sau mũ có chữ Sport; kính chắn gió bị vỡ một phần, trên mũ bị tróc sơn loang lổ màu trắng, bên trái đỉnh mũ có một vết cắt dài 7cm;
- Trả lại cho anh Triệu Văn S: 01 chiếc áo khoác màu đen, phía trước bên ngực trái có chữ M, tay áo bên phải có 01 vết cắt thủng dài 6,5cm và 01 chiếc áo khoác màu trắng có hoa văn màu đen, mặt ngoài áo có lông, tay áo bên phải có một vết cắt thủng dài 06cm. Hai chiếc áo đựng trong một túi nilon có niêm phong.
Số lượng, tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì lập ngày 03/7/2024.
Tạm giữ số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng theo biên lai thu số: 0002320 ngày 26/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án cho bị cáo
[5] Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Minh H.
[6] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; bị hại, người có quyền lợi liên quan. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Triệu Thị T1 có quyền kháng cáo bản án có liên quan đến quyền lợi của họ trong hạn 15 (mười năm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Triệu Thị K, ông Nguyễn Đình N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án có liên quan đến quyền lợi của họ trong hạn 15 (mười năm) ngày kể từ ngày bản án được giao nhận hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) TRẦN QUANG HÒA |
12
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Tội cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tối cố ý gây thương tích
