Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

 

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 06 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Sách.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Bùi Tấn Dũng.

Bà Ngô Thị Lệ Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 07/TB-TA ngày 04/6/2024, đối với bị cáo:

* Phạm Văn S, sinh ngày 01/01/1973 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nhiệp: Không có; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không (bị cáo S khai tại phiên tòa); Con ông: Phạm Văn C, sinh năm:……………… (chết) và bà: Đặng Thị Ê, sinh năm: 1951; Có vợ: Huỳnh Thị B, sinh năm: 1974 (đã ly thân) và 03 người con: Lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, Tiền sự: Chưa có; Tạm giam: Từ ngày 16/01/2024 đến 07/02/2024 cho bảo lĩnh - ( Hiện bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Đoàn Văn B1, sinh ngày 01/01/1978. Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn S1, sinh năm:1987 (Vắng mặt).
  2. Đoàn Hữu N, sinh năm: 1999 (Có mặt).
  3. Đoàn Trọng H, sinh năm: 1981 (Vắng mặt).
  4. Đoàn Thị Phương L, sinh năm: 1976 (Vắng mặt).
  5. Lê Văn L1 (C), sinh năm: 1950 (Vắng mặt).
  6. Lê Thị D (D1), sinh năm: 1994 (Vắng mặt).
  7. Trần Thị Thanh Kim H1, sinh năm: 1977 (Vắng mặt).
  8. Lê Thị Kim A (6 Tol), sinh năm: 1954 (Vắng mặt).
  9. Huỳnh Thị Kim T, sinh năm: 1953 (Vắng mặt).
  10. Huỳnh Thị H2, sinh năm: 1952 (Vắng mặt).
  11. Pư Thi L2, sinh năm: 2005 (Vắng mặt).
  12. Lê Văn Đ, sinh năm: 1983 (Vắng mặt).
  13. Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1976 (Vắng mặt).
  14. Trần Thị L3, sinh năm: 1971 (Vắng mặt).
  15. Cùng cư trú: ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  16. Lê Văn N1, sinh năm: 1985 (Vắng mặt).
  17. Cư trú: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  18. Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1981 (Vắng mặt).
  19. Cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án theo Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Hồng N2 được tóm tắc như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 17/8/2023, Đoàn Văn B1, Lê Văn N1, Nguyễn Văn S1, Lê Văn L1 (C), Lê Văn ĐPhạm Văn S tổ chức uống rượu tại vĩa hè trước cửa nhà của ông L1 thuộc địa phận ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Trong lúc uống rượu Bằng và Phạm Văn S chơi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, hình thức bài sáu lá lựa thì xảy ra cự cải (những người còn lại không tham gia), thấy vậy ông L1 và anh Đ về nhà, còn Phạm Văn S điều khiển xe mô tô bỏ đi, được một đoạn do để quên nón bảo hiểm nên quay trở lại lấy, khi này vẫn nghe anh B1 chửi mình, tức giận và nhìn thấy trước cửa nhà của ông L1 có nhiều khúc gỗ còn tươi (dùng để làm củi đang để trong cái bội úp gà lật ngữa) nên Phạm Văn S lấy một khúc gỗ cầm trên tay phải đi lại chổ anh B1 đang ngồi (Phạm Văn S đứng phía sau lưng anh B1) đánh một cái vào đầu bên phải của anh B1, được anh Nguyễn Văn S1 can ngăn và giật lấy khúc gỗ, đem ném bỏ ở dãi phân cách đường lộ ĐT 841(cách đó khoảng 05m đến 06m).

Sau đó Phạm Văn S điều khiển xe mô tô về nhà, còn anh Bằng k thấy chảy máu, nên cũng đi về nhà ngủ. Sang sáng ngày 18/8/2023 anh B1 đi đến nhà anh Nguyễn Văn S1 chơi thì bị buồn nôn, chống mặt và được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ điều trị, đến ngày 21 tháng 8 năm 2023 xuất viện. Ngày 05 tháng 9 năm 2023 anh B1 gửi đơn đến Công an xã T 1 yêu cầu xử lý hình sự đối với Phạm Văn S. Xét thấy, có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã T 1 chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để điều tra theo thẩm quyền.

Trong quá trình điều tra, Phạm Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Phạm Văn S phù hợp với Kết luận giám định tổn thương cơ thể của Đoàn Văn B1, lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng: 01 (một) khúc gỗ có chiều dài 32cm, đường kính lớn 7,5cm, đường kính nhỏ 7,3cm, trọng lượng 1,02kg (cây còn tươi khi thu giữ) do anh Đoàn Văn B1 giao nộp.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 357/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 06/10/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đoàn Văn B1 tại thời điểm giám định là 51%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư; Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày gây ra; Chiều hướng hình thành tổn thương từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. (bút lục 27-28) và tại Công văn số: 508/CV-TTPY ngày 22/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ giải thích giám định:

  • Nức sọ vùng đỉnh bên phải dường kính khoảng 4,4cm. Tỷ lệ tổn thương 11%.
  • Dập não vùng đỉnh bên phải đường kính khoảng 4,3cm, không có di chứng chức năng hệ thần kinh. Tỷ lệ tổn thương 26%.
  • Lún cả hai bản sọ vùng đỉnh bên phải, kích thước khoảng 3,5cm, điện não có ổ tổn thương tương ứng. Tỷ lệ tổn thương 26%.
  • Do 01 ngoại lực tác động vào đỉnh phải gây ra 03 chấn thương trên.
  • Căn cứ Thông tư số: 22/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ Y....áp dụng phương pháp cộng và xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đoàn Văn B1 tại thời điểm giám định là 51%.
  • Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Trách nhiệm dân sự: Tại Biên bản thỏa thuận ngày 24/01/2024, bị hại Đoàn Văn B1 yêu cầu bị cáo Phạm Văn S bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần, chi phí tàu xe, tiền công lao động và các chi phí khác, tổng số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo Phạm Văn S thống nhất và đã bồi thường xong.

Tại Cáo trạng số: 17/CT-VKSHN ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Phạm Văn S, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn S từ 05 năm đến 06 năm tù; Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 khúc gỗ có chiếu dài 32cm; đường kính lớn 7,5cm; đường kính nhỏ 7,3cm; trọng lượng 1,02kg; Về trách nhiệm dân sự: đã thực hiện xong nên không đề cập.

Tại phiên tòa trong phần phát biểu tranh luận: Bị cáo Phạm Văn S, thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Phạm Văn S thừa nhận phạm tội với hành vi dùng khúc gỗ như nêu trên đánh vào đầu gây thương tích cho anh Đoàn Văn B1 và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án hình sự, theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự truy tố bị cáo Phạm Văn S về hành vi “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự và vụ án xãy ra tại địa phận huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án có triệu tập người làm chứng, nhưng tại phiên tòa thì có một số người làm chứng vắng mặt không lý do (mặt dù đã được triệu tập hợp lệ). Xét thấy qua ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng có mặt, thì việc vắng mặt những người làm chứng này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, vã lại họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị ép buộc; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Nên Hội đồng xét xử không đặc vấn đề giải quyết.

[2]. Về nội dung vụ án:

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 357/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 06/10/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đoàn Văn B1 tại thời điểm giám định là 51%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư; Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày gây ra; Chiều hướng hình thành tổn thương từ phải sang trái, từ trên xuống dưới và Công văn số: 508/CV-TTPY ngày 22/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ giải thích giám định, nêu:

  • Nức sọ vùng đỉnh bên phải dường kính khoảng 4,4cm. Tỷ lệ tổn thương 11%.
  • Dập não vùng đỉnh bên phải đường kính khoảng 4,3cm, không có di chứng chức năng hệ thần kinh. Tỷ lệ tổn thương 26%.
  • Lún cả hai bản sọ vùng đỉnh bên phải, kích thước khoảng 3,5cm, điện não có ổ tổn thương tương ứng. Tỷ lệ tổn thương 26%.
  • Do 01 ngoại lực tác động vào đỉnh phải gây ra 03 chấn thương trên.
  • Căn cứ Thông tư số: 22/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ Y....áp dụng phương pháp cộng và xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đoàn Văn B1 tại thời điểm giám định là 51%.
  • Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm của mình, là đã có gây thương tích cho anh Đoàn Văn B1 như nêu trên. Hội đồng xét xử, nhận thấy: Qua tranh tụng tại phiên tòa và với tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ, cùng với sự nhận tội của bị cáo Phạm Văn S, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn S có thực hiện hành vi dùng tay phải cầm một khúc gỗ (loại hung khí nguy hiểm – có chiều dài 32cm, đường kính lớn 7,5cm, đường kính nhỏ 7,3cm, trọng lượng 1,02kg (cây còn tươi khi thu nhận, do anh Đoàn Văn B1 giao nộp - bị cáo S thừa nhận tại phiên tòa là đúng khúc gỗ này) đi lại chổ anh Đoàn Văn B1 đang ngồi (đứng phía sau lưng) đánh một cái trúng vào vùng đỉnh đầu bên phải của anh Đoàn Văn B1, gây tổn thương cơ thể là 51% (theo Kết luận giám định số: 357/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 06/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ), hành vi này đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích, quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

i) Có tính chất côn đồ;

2..."

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a)....

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; ....”

Với hành vi trên của bị cáo S là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh B1 một cách trái pháp luật. Bị cáo S là người đầy đủ năng lực hành vi, biết việc cầm khúc gỗ là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu người khác gây thương tích thì sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng lại bất chấp chỉ vì nóng giận tức thời mà cầm khúc gỗ như nêu trên đánh một cái thật mạnh trúng vào vùng đỉnh đầu của anh B1, làm nứt sọ, lún cả hai bản sọ, dập não... với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51% tại thời điểm giám đỉnh theo kết luận số:357/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 06/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ. Nếu như bị cáo S có suy nghĩ chính chắn, không chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong đánh bạc, vã lại cũng là anh em xóm giềng vừa mới nhậu chung, anh B1 thì quá say sỉn mà kềm chế lại, bỏ qua giận hờn, thì không có vụ án này xảy ra và bị cáo S cũng không phải đứng trước phiên tòa chờ pháp luật phán xét như hôm nay. Do đó, với tính chất, mức độ, hậu quả qua hành vi mà bị cáo S đã gây ra, đồng thời để ổn định trật tự trị an ở địa phương, nên nghĩ cần có một mức hình phạt nghiêm khắc cho bị cáo S, nhằm có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo S có ý thức tốt hơn trong việc chấp hành pháp luật, thấy được lỗi lầm mà từ bỏ con đường phạm tội, trở thành công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Có như vậy mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, thuộc thành phần lao động thủ công, sự hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, đã thỏa thuận xong với bị hại anh B1 trong việc bồi thường thiệt hại và anh B1 đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S, ngoài ra cũng có một phần lỗi của anh B1 (chửi bị cáo S liên tục..), do đó nghĩ cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo S, đồng thời thấy rằng mặc dù tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện đề nghị xử phạt bị cáo S mức án trong khung hình phạt truy tố, nhưng bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ và hiện nay bị cáo S đang mắc bệnh phổi (bị cáo S khai tại phiên tòa), nên cần áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định. Đó là tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[4]. Về tình tiết tăng nặng: không có.

[5]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy: Vật chứng trong vụ án là 01 (một) khúc gỗ có chiều dài 32cm, đường kính lớn 7,5cm, đường kính nhỏ 7,3cm, trọng lượng 1,02kg (cây còn tươi thu nhận) do anh Đoàn Văn B1 giao nộp - nhưng không xác định được chủ sở hữu, vã lại vật rẽ tiền, mau hỏng (loại làm củi, không còn giá trị sử dụng), nên Viện kiểm sát huyện Hồng Ngự đề nghị tịch thu tiêu hủy là có cơ sở chấp nhận tiêu hủy.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong và tại phiên tòa bị hại anh Bằng k yêu cầu gì thêm, nên không đề cập xem xét.

[7]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí để buộc bị cáo S chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S, sinh năm: 1973, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn S, 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Phạm Văn S chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 07/02/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khúc gỗ có chiều dài 32cm, đường kính lớn 7,5cm, đường kính nhỏ 7,3cm, trọng lượng 1,02kg (cây còn tươi khi thu nhận – hiện đã khô)

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân dự huyện H, tỉnh Đồng Tháp đang quả lý)

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí: Bị cáo Phạm Văn S, phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Phạm Văn S, bị hại Đoàn Văn B1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (06/6/2024).

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Chi cục THADS huyện Hồng Ngự;
  • - Cơ quan điều tra H-Hồng Ngự;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự H-Hồng Ngự
  • - UBND xã Thường Phước 1;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Quốc Sách

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TÒA B2

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S, sinh năm: 1973, phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn S, 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Phạm Văn S chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 07/02/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger