Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 24/2024/HS-PT

Ngày 10/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Trọng.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Nguyễn Duy Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Như Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 27/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đào Văn V, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Bị cáo Đào Văn V, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân B và bà Đào Thị L (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/4/1986, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Có mặt.

Bị hại kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Đỗ Đức T1 và luật sư Nguyễn Thị Vinh H – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Đều có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đào Văn A, sinh năm 1962; Đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1984; Vắng mặt.

2

  1. Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1962; Có mặt.
  2. Anh Đào Xuân P, sinh năm 1982; Có mặt.
  3. Ông Đào Văn T2, sinh năm 1968; Vắng mặt.
  4. Ông Đào Xuân B, sinh năm 1934; Vắng mặt.
  5. Anh Đào Văn N2, sinh năm 1976; Vắng mặt.
  6. Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1988; Vắng mặt.
  7. Chị Đào Thị H2, sinh năm 1989; Vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông A: Luật sư Hoàng Văn H3 – Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 18/02/2023, ông Đào Xuân B cùng các con cháu là Đào Văn V, Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Xuân P và chị Đào Thị H4 ngồi ăn cơm, uống rượu tại gia đình anh Đào Xuân V1 (là con trai ông B) ở thôn T, xã T. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, ông B điều khiển xe đạp đi về nhà trước. Khi ông B đang xe đạp trên đường thôn thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số: 89F1-3735 do anh Nguyễn Xuân N ở cùng thôn điều khiển đi phía sau cùng chiều làm xe đạp bị đổ nhưng không ai bị thương tích. Sau khi xảy ra va chạm, anh N xin lỗi ông B, hai bên không xảy ra to tiếng, ông B điều khiển xe đạp về nhà. Sau đó ông B kiểm tra thấy chiếc xe đạp bị gãy 03 chiếc nan hoa ở bánh xe phía sau nên đã dắt xe đạp đến nhà anh N bắt đền. Khi ông B đến nơi thì gặp chị Nguyễn Thị Thanh H1 (là vợ của anh N) đang ở nhà, còn anh N đang tắm phía trong, ông B yêu cầu anh N sữa chữa xe đạp trả ông thì chị H1 đồng ý sẽ trả tiền sửa chiếc xe đạp cho ông B.

Cháu ông B là chị Đào Thị H4 thấy ông B dắt xe đến nhà anh N bắt đền nên đã đi vào nhà ông Đào Xuân V1 (là bố đẻ của chị H4) kể lại. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày 18/02/2023, sau khi nghe xong thì các con cháu của ông B là Đào Văn T2, Đào Văn An, Đào Văn V và chị Đào Thị H4, anh Đào Xuân P (cháu nội của ông B) đi bộ đến nhà anh N thì thấy ông B đang dắt xe đạp về để mang đi sửa. Thấy vậy các con, cháu của ông B bảo ông B để xe đạp lại cho chị H1 mang sửa không phải mang về thì ông B đồng ý. Ông B dắt chiếc xe đạp dựng vào sân nhà chị H1, chị H1 đồng ý sẽ mang đi sửa rồi đưa xe lại cho ông B sau, sau đó anh Đào Xuân P đi xe mô tô chở ông B đi về nhà. Anh N tắm xong đi ra sân thì thấy đông người gồm: ông Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Văn V,

3

Đào Xuân P, Đào Thị H4 và bà Hoàng Thị H5 (là con dâu ông B) đang ở cổng nhà anh N, anh N đi từ trong nhà ra nói: “Không phải sửa, không phải đền gì hết” rồi dùng hai tay dắt xe đạp của ông B ra để ở ngoài đường bê tông. Thấy anh N nói vậy thì Đào Văn V bảo: “Đ mẹ thằng này, vợ mày bảo sửa mà mày lại không sửa, vứt xe ra đường thế à”. Thấy to tiếng ở cổng nên ông Nguyễn Văn C và vợ là bà Hoàng Thị N1 (là bố mẹ đẻ của anh N) ở cạnh nhà anh N đi ra cổng. Nghe V nói vậy ông C bảo: “mày chửi ai đấy”, thì V nói “Tao chửi mày đấy”. Sau đó hai bên lao vào dùng tay không xô xát cãi nhau, khi những người trong gia đình V và những người trong gia đình ông C đang xô xát cãi nhau thì Đào Văn V lùi lại phía sau, cách vị trí mọi người đang xô xát khoảng 3m, V dùng tay phải nhặt nửa viên gạch chỉ đỏ ở đường ném về phía ông C thì trúng vào đầu làm ông C ngã ra nền đường bê tông bất tỉnh, thấy vậy chị H1 kêu lên “Thằng V cầm gạch ném vào đầu bố rồi”, hai bên không xô xát, cãi nhau nữa. Anh N cùng người thân trong gia đình đưa ông C đến Trung tâm Y tế huyện V sơ cứu, do thương tích nặng nên đã chuyển đến Bệnh viện T3 để cấp cứu. Sáng ngày 19/02/2023, ông C được chuyển về Bệnh viện Đ điều trị, đến ngày 07/3/2023 thì được ra viện với thương tích ban đầu xác định “Hình ảnh ổ đụng dập tụ máu trong nhu mô thùy trán hai bên. Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não hai bên liềm đại não, lều tiểu não phải. Xuất huyết dưới nhện trong vài rãnh cuộn não thùy trán bên trái, thái dương hai bên, vỡ lún xương đỉnh phải”. Ông Đào Văn A bị thương tích phần mềm, được người thân đưa đến bệnh viện Q khám và chiếu chụp. Ông Đào Văn T2 bị thương nhẹ nên không đi khám, điều trị ở đâu.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 18/02/2023 bà Hoàng Thị N1 làm đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đề nghị khởi tố và giám định thương tích đối với ông C, đề nghị xử lý người đã gây ra thương tích cho ông C. Cùng ngày 18/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V tiến hành khám nghiệm hiện trường đã thu giữ: nửa viên gạch chỉ đỏ, 01 viên gạch chỉ đỏ, 01 chiếc tông màu vàng, 01 chiếc dép màu đen trắng.

Cùng ngày 18/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V tiến hành trích xuất hình ảnh camera, thu thập được 01 File Video ghi nhận lại diễn biến vụ việc tại gia đình anh Đào Văn H6 cạnh nhà anh N. Tiến hành cho Đào Văn V, anh Đào Xuân P, anh Nguyễn Xuân N nhận dạng qua Video thì cả ba đều xác định người nam giới mặc áo dài tay màu đỏ, tay phải cầm vật ném về phía ông C là Đào Văn V.

Ngày 26/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 43 gửi V3 Bộ C2 tiến hành giám định thương tích đối với ông Nguyễn Văn C. Ngày 23/3/2023, V3 Bộ C2 có Kết luận giám định pháp y thương tích số1957 kết luận:

4

“Đối chiếu với Bảng 1 – Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho từng thương tích như sau:

  • - Sẹo trung bình vùng đỉnh chẩm phải: 02%(áp dụng Nguyên tắc 1; Mục I.2, C)
  • - Sẹo nhỏ vùng đỉnh phải (sẹo dẫn lưu): 01% (áp dụng Nguyên tắc 1, 3; Mục I.1, C1 8).
  • - Ở khuyết xương đỉnh chẩm phải, đường kính ổ khuyết 2cm trở xuống: 16%(áp dụng Mục I.5.1, Chương 1).
  • - Vỡ xương chẩm phải: 08%(áp dụng Mục I.2.1, Chương 1).
  • - Vỡ xương đỉnh chẩm trái: 08%(áp dụng Mục I.2.1, Chương 1).
  • - Các tổn thương não gây liệt nửa người phải mức độ nhẹ: 36%(áp dụng Mục V.2.4, Chương 1).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn C tại thời điểm giám định là: 56% (năm mươi sáu phần trăm).

  • - Cơ chế hình thành thương tích ông Nguyễn Văn C: Các tổn thương do vật tày gây nên”.

Ngày 10/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 53 gửi phòng K Công an tỉnh H tiến hành giám định đối với Filr V2 đã thu giữ xem có bị cắt ghép chỉnh sửa không. Ngày 31/3/2023, phòng K Công an tỉnh H có Kết luận giám định số 53 kết luận: “Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp Video gửi giám định.

  • - Trích xuất hình ảnh người nam giới mặc áo dài tay màu đỏ, tay phải cầm vật ném về phía những người đang xô xát, đánh nhau (có bản ảnh kèm theo).
  • - Trích hình ảnh người nam giới mặc áo dài tay màu trắng, quần dài màu đen bị ngã ngửa xuống nền đường nằm bất động sau khi người nam giới mặc áo dài tay màu đỏ, tay phải cầm vật ném về phía những người đang xô xát, đánh nhau (có bản ảnh kèm theo)”.

Ngày 05/6/2023, ông Nguyễn Văn C được người thân đưa đến Bệnh viện Đ làm thủ tục nhập viện lại để phẫu thuật vá khuyết sọ sau chấn thương sọ não, đến ngày 12/6/2023 được ra viện. Ngày 03/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định lại số 01 đối với ông C do bị cáo V và người liên quan là anh Đào Xuân P có đơn đề nghị yêu cầu đưa ông

5

C đi giám định lại. Cơ quan điều tra đã ra quyết định dẫn giải nhưng ông C kiên quyết từ chối giám định lại.

Ông Đào Văn A bị tổn thương phần mềm phải đi khám, chiếu chụp tại Bệnh viện Q. Ông A đề nghị giám định thương tích và đề nghị xử lý người đã gây ra thương tích cho ông. Ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 176 gửi V3 Bộ C2 tiến hành giám định thương tích đối với ông Đào Văn A. Ngày 14/8/2023, V3 Bộ C2 có bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 5732, kết luận: “Đối chiếu với Bảng 1 – Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đào Văn A tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm).Vùng đầu – mặt của ông Đào Văn A không còn dấu vết thương tích nên không có cơ sở xác định cơ chế hình thành thương tích”.

Quá trình điều tra: Đào Văn V, ông Đào Văn A, ông Đào Văn T2, anh Đào Xuân P, bà Hoàng Thị H5, chị Đào Thị H4 (phía gia đình bị cáo V) đều khai nhận do ông C dùng tay bóp cổ Đào Văn V trước thì mọi người vào can ngăn, sau đó hai bên xảy ra xô xát cãi nhau. Tuy nhiên những người trong gia đình ông C gồm: ông C, bà N1, anh N, chị H1 đều khẳng định những người trong gia đình V đánh trước thì những người trong gia đình ông C mới tự vệ, chống trả lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã tiến hành cho các bên đối chất để làm rõ bên nào đánh trước nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm. V thừa nhận trong lúc xô sát cãi nhau thì có nhặt 01 nửa viên gạch chỉ đỏ tại rìa đường ném vào đám đông để mọi người giải tán chứ không có mục đích gây thương tích cho ai, khi bị can ném thì đúng lúc ông C đang lúi húi đứng lên thì bị trúng đầu, V hoàn toàn không có ý thức tước đoạt tính mạng của ông C.

Đối với 01 viên gạch chỉ đỏ thu giữ tại hiện trường không liên quan đến hành vi phạm tội; nửa viên gạch chỉ đỏ là vật chứng V sử dụng ném gây thương tích cho ông C; 01 chiếc tông màu vàng là của ông Đào Văn A khi xô xát để lại tại hiện trường; 01 chiếc dép màu đen trắng chưa xác định được của ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã nhập kho vật chứng xử lý sau theo quy định.

Ông Nguyễn Văn C yêu cầu Đào Văn V bồi thường tổng số tiền 341.433.000 đồng (ba trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng) gồm toàn bộ các khoản chi phí điều trị, ngày công phải nghỉ của người chăm sóc, tiền tổn thất tinh thần, tiền phục hồi sức khỏe. Bị cáo V cho rằng việc ông C yêu cầu bồi thường như vậy là cao nên không chấp nhận và nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

6

Ông C có đơn đề nghị khởi tố đối với Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Xuân P và Hoàng Thị H5 về hành vi cố ý gây thương tích cho ông nhưng không được các cơ quan tố tụng của huyện V chấp nhận.

Đối với hành vi xô xát, đánh nhau gây mất trật tự công cộng ở khu dân cư của Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Xuân P, Hoàng Thị H5, Nguyễn Xuân N, Nguyễn Văn C, Hoàng Thị N1 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã kết án bị cáo Đào Văn V về tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 590 BLDS.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn V 06 năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 19/4/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đào Văn V bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền là 42.376.000 đồng; bồi thường cho bà Hoàng Thị N1 và anh Nguyễn Xuân N mỗi người là 4.800.000 đồng; bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh H1 là 1.400.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu lãi suất do chậm thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/02/2024, bị hại Nguyễn Văn C kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm kết án bị cáo Đào Văn V về tội Giết người; đề nghị xử lý hình sự đối với ông Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Xuân P, Đào Thị H4, Hoàng Thị H5 và đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa

  • + Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đã gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm.
  • + Bị cáo xác định khi ném gạch về phía ông C thì không có chủ ý ném vào vị trí cụ thể nào trên người bị hại, không có mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại. Về yêu cầu kháng cáo phần trách nhiệm dân sự, bị cáo nhất trí bồi thường cho ông C chi phí điều trị tại Bệnh viện Y1, Bệnh viện M và Bệnh viện V4 là 4.571.000 đồng; đối với các chi phí khác đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối

7

với các thành viên còn lại trong gia đình bị cáo tham gia xô xát váo ngày 18/02/2023 không có căn cứ xác định đồng phạm với bị cáo V, cũng như không có căn cứ xác định những người này phạm tội độc lập do những dấu vết còn lại trên người ông C (trừ vết thương ở đầu) không xác định được tỷ lệ thương tật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại về tội danh của bị cáo và kháng cáo bỏ lọt người phạm tội; đối với kháng cáo tăng bồi thường đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

  • + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 47 của TANDTC để kết án bị cáo về tội Giết người. Đối với ông C, ngoài thương tích ở đầu, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ còn thể hiện vết bầm tím ở mắt là hậu quả của việc xô xát với gia đình bị cáo nhưng chưa được cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm xem xét, kết luận là có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội. Về trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chưa chính xác, một số chi phí người bị hại đã chi trả là hợp lệ nhưng không được chấp nhận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn C được làm trong thời hạn do pháp luật quy định là hợp pháp.

[2] Xét kháng cáo của bị hại cho rằng phải kết án bị cáo về tội Giết người thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận tối ngày 18/02/2023, tại đường bê tông trước cổng nhà anh Nguyễn Xuân N ở thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, có xảy ra xô xát giữa gia đình của bị cáo gồm có bị cáo và các ông bà ông Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Xuân P, Đào Thị H4, Hoàng Thị H5 với gia đình của bị hại gồm có ông Nguyễn Văn C, bà Hoàng Thị N1 và anh Nguyễn Xuân N. Ban đầu hai bên dùng chân tay đánh nhau, nhưng liền ngay đó, bị cáo nhặt nửa viên gạch chỉ ở rìa đường ném trúng đầu ông C. Hậu quả, ông C bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 56%. Lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của các bên liên quan trong vụ việc xô xát, phù hợp với bệnh án điều trị của ông C, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo sử dụng nửa viên gạch chỉ được xác định là hung khí nguy hiểm ném trúng vùng đầu bị hại là vùng trọng yếu trên cơ thể. Tuy nhiên, giữa hai bên không có mâu thuẫn từ trước, đồng thời xem xét hành vi khách quan của bị cáo thì thấy, bị cáo đứng cách xa bị hại, nhặt gạch ở rìa đường và ném về phía ông C. Như vậy, bị cáo không chuẩn bị trước hung khí, việc nhặt gạch, ném ông C mang tính bột phát; bị cáo cũng không có chủ đích tấn công vào vùng đầu bị hại, chỉ ném một lần, không thể hiện sự quyết liệt trong việc tấn công bị hại. Cho

8

nên, không có căn cứ xác định bị cáo có ý thức tước đoạt tính mạng của ông C; việc áp dụng Án lệ số 47 của TANDTC để giải quyết vụ án là không thỏa mãn các điều kiện pháp lý. Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Người bị hại cho rằng bị cáo có ý định tước đoạt tính mạng của mình là không phù hợp với các tính tiết khách quan nêu trên của vụ án, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại cho rằng phải kết án bị cáo V về tội Giết người.

[3] Xét kháng cáo của bị hại cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm bỏ lọt người phạm tội đối với ông Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Xuân P, Đào Thị H4 và Hoàng Thị H5 do những người này dùng chân tay đánh ông và vợ con của ông thì thấy, trong lúc xô xát có việc những người này dùng chân tay đánh ông, bà N1 và anh N, đồng thời những người trong gia đình ông cũng chống trả, đánh lại. Tuy nhiên, thương tích hai bên gây ra cho nhau (trừ thương tích bị cáo gây ra cho ông C ở vùng đầu) đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 134 BLHS, nên các cơ quan tố tụng của huyện V không xử lý hình sự các thành viên còn lại của gia đình bị cáo và các thành viên của gia đình ông tham gia đánh nhau vào ngày 18/02/2023 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông về nội dung này cũng không được chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo của bị hại đề nghị chấp nhận chi phí khám bệnh tại Bệnh viện V4, Bệnh viện Y1, Bệnh viện M; chấp nhận chi phí phục hồi chức năng cho ông; chấp nhận thu nhập thực tế bị mất của anh Nguyễn Xuân N trong thời gian chăm sóc ông với mức 1.000.000 đồng/ngày; tăng mức bồi thường tổn thất về tinh thần, thì thấy:

[4.1] Về chi phí khám bệnh tại Bệnh viện V4, Bệnh viện Y1 và Bệnh viện M. Tại Phiếu yêu cầu khám chuyên khoa của V3 - Bộ C2 có yêu cầu ông Cao khám chuyên khoa mắt và thần kinh. Thực hiện yêu cầu này, ông C đăng ký khám thần kinh tại Bệnh viện V4, Bệnh viện Y1 và khám mắt tại Bệnh viện M trong các ngày 16, 17/3/2023. Đồng thời, tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích của V3 thể hiện “thời gian giám định đối với ông C là từ ngày 16/3/2023 đến ngày 23/3/2023, đồng thời về phương pháp giám định có thể hiện về khám chuyên khoa thần kinh và khám chuyên khoa mắt”. Như vậy, các chi phí khám bệnh của ông C tại 03 bệnh viện này được xác định là chi phí hợp lệ. Chi phí khám bệnh và mua thuốc của ông C tại các cơ sở y tế này có hóa đơn tổng cộng là 4.571.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường khoản tiền này, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

9

[4.2] Về chi phí phục hồi chức năng bị giảm sút. Ông C điều trị tại Bệnh viện Đ từ ngày 19/02/2023 với tình trạng bệnh tổn thương sọ não, đến ngày 07/3/2023 được ra viện. Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích của ông C, về phần kết luận thể hiện “các tổn thương não gây liệt nửa người phải mức độ nhẹ”. Do đó, việc điều trị bằng châm cứu kết hợp vật lý trị niệu để phục hồi chức năng vận động như ông Cao trình b là cần thiết. Theo lời khai của bị hại và lời khai của ông Lê Hồng S là bác sỹ Đông y trực tiếp điều trị cho ông C thì chi phí điều trị của ông C trong liệu trình 45 ngày, bắt đầu từ ngày 12/3/2023 là 18.000.000 đồng, là chi phí cần thiết và hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.3] Về mức bồi thường tổn thất tinh thần. Ông C bị thương tích ở vùng đầu với tỷ lệ tổn thương nặng 56%, phải mổ phẫu thuật hộp sọ để cấp cứu, sau một thời gian thì tiến hành ghép xương sọ. Thời gian điều trị tại các cơ sở y tế kéo dài, nhưng vẫn để lại di chứng liệt nửa người bên phải. Như vậy, hậu quả thương tích bị hại phải gánh chịu là nặng nề, mức độ tổn thương tinh thần là nghiêm trọng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định mức độ tổn thất tinh thần tương đương 10 tháng lương cơ sở là chưa phù hợp, cần phải áp dụng ở mức cao hơn là 25 tháng lương cơ sở, thành tiền là 45.000.000 đồng. Do đó, nội dung kháng cáo này của bị hại được chấp nhận.

[4.4] Như vậy, ngoài số tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe mà Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận cho ông C là 42.376.000 đồng (đã trừ 70.000.000 đồng được gia đình bị cáo bồi thường) thì Hội đồng xét xử phúc thẩm còn buộc bị cáo bồi thường thêm cho ông C 49.571.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông C được bồi thường là 91.947.000 đồng.

[4.5] Về thu nhập thực tế bị mất của anh N. Tại Cơ quan điều tra, anh N có lời khai vào ngày 28/02/2023 song chưa đưa ra yêu cầu về bồi thường. Đến ngày 17/4/2023 anh N có Đơn đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc của Cơ quan điều tra do có công việc phải đi xa, đồng thời theo cung cấp của ông C thì anh N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Như vậy, anh C đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh thiệt hại để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ngày công của anh N theo mức thu nhập trung bình tại địa phương là 200.000 đồng/ngày là có căn cứ, đã đảm bảo được quyền lợi của anh N. Cho nên, kháng cáo của ông C cho rằng phải xác định ngày công của anh N là 1.000.000 đồng/ngày để tính thu nhập thực tế bị mất là không có cơ sở, nên không được chấp nhận.

10

[5] Về án phí: Bị hại kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Bị cáo phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn C về tội danh của bị cáo Đào Văn V. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn C đề nghị xử lý về hình sự đối với các ông bà Đào Văn A, Đào Văn T2, Đào Xuân P, Đào Thị H4 và Hoàng Thị H5. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn C về trách nhiệm dân sự. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên như sau:

  • + Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự.
  • + Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn V phạm tội Cố ý gây thương tích.
  • + Xử phạt: Bị cáo Đào Văn V 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2023.
  • + Về trách nhiệm dân sự:
    • - Buộc bị cáo Đào Văn V bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Nguyễn Văn C số tiền là 91.947.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Đào Văn V bồi thường tiền mất thu nhập cho anh Nguyễn Xuân N và bà Hoàng Thị N1 trong thời gian chăm sóc ông Nguyễn Văn C; mỗi người là 4.800.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Đào Văn V bồi thường tiền mất thu nhập cho chị Nguyễn Thị Thanh H1 trong thời gian chăm sóc ông Nguyễn Văn C số tiền là 1.400.000 đồng;
    • - Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

11

2. Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đào Văn V phải chịu 5.147.350 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng PC10-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND, VKS, CA huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo; bị hại; đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HC; VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Tuấn Trọng

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về cố ý gây thương tích (phúc thẩm)

  • Số bản án: 24/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn V phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger