|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04/7/2024
V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hải Thanh và bà Hứa Thị Mây Sum.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quảng Đại Phát – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm canh khai vụ án thụ lý số: 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tạ Yên Thị H, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Bị đơn: Anh Pi Năng Ngh, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2024 và trong quá trình tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Tạ Yên Thị H trình bày:
Chị và anh Pi Năng Ngh, tự tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 28 tháng 3 năm 2014.
Sau khi lấy nhau vợ chồng về sống tại thôn L, xã H, thời gian đầu hạnh phúc, về sau mâu thuẫn gia đình xảy ra. Nguyên nhân là do anh Ngh thường xuyên uống rượu về nhà đánh đập vợ con, có quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn không thể chung sống được. Hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau từ tháng 12 năm 2019 cho đến nay, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Pi Năng Ngh.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Tạ Yên Kh, sinh ngày 20/01/2012 và Tạ Yên Q, sinh ngày 14/01/2018. Hiên nay chị đang nuôi các con. Nếu ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Pi Năng Ngh không đến Toà án làm việc và cũng không có ý kiến gì phản hồi liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên toà không có lý do.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn; chị Tạ Yên Thị H được ly hôn anh Pi Năng Ngh.
- - Về án phí: Chị Tạ Yên Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Pi Năng Ngh có địa chỉ cư trú tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Nội dung các bên tranh chấp xuất phát từ mâu thuẫn gia đình dẫn đến xin ly hôn nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Pi Năng Ngh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy báo lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Pi Năng Ngh vẫn vắng mặt không có lý do; Điều này chứng tỏ anh Pi Năng Ngh đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Pi Năng Ngh.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Tạ Yên Thị Hình và anh Pi Năng Ngh đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 21/2014, ngày 28/3/2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Tạ Yên Thị H và anh Pi Năng Ngh là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
Trong quá trình chung sống chị Tạ Yên Thị H và anh Pi Năng Ngh tính tình không hợp nhau, không thống nhất về quan điểm sống, có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống từ tháng 12 năm 2019 cho đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh Pi Năng Ngh không tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Tạ Yên Thị H. Điều này chứng tỏ anh Pi Năng Ngh có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xét thấy hôn nhân giữa chị Tạ Yên Thị H và anh Pi Năng Ngh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tạ Yên Thị H.
[2.2]. Về con chung:
Chị Tạ Yên Thị H và anh Pi Năng Ngh có 02 con chung tên Tạ Yên Kh, sinh ngày 20/01/2012 và Tạ Yên Q, sinh ngày 14/01/2018. Khi chị Tạ Yên Thị H và anh Pi Năng Ngh không còn sống chung thì các con đang ở cùng mẹ, được mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, anh Pi Năng Ngh không quan tâm đến các con.
Quá trình giải quyết vụ án anh Pi Năng Ngh vắng mặt, không cung cấp ý kiến về vấn đề nuôi dưỡng con chung. Hơn nữa, theo nguyện vọng của con là muốn sống cùng với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao các con chung cho chị Tạ Yên Thị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, nguyện vọng của con chung và đảm bảo cho con chung phát triển toàn diện về tâm sinh lý về sau là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị Tạ Yên Thị H không yêu cầu anh Pi Năng Ngh cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù hợp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tạ Yên Thị H không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
[3] Về án phí: Chị Tạ Yên Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T về nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật nghĩ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tạ Yên Thị H.
- Về hôn nhân: Chị Tạ Yên Thị H được ly hôn với anh Pi Năng Ngh.
- Về con chung: Giao cho chị Tạ Yên Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Tạ Yên Kh, sinh ngày 20/01/2012 và Tạ Yên Q, sinh ngày 14/01/2018. Anh Pi Năng Ngh không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Chị Tạ Yên Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 04/7/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Văn Tiến |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tạ Yên Thị H được ly hôn với anh Pi Năng Ngh.
