Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-PT.

Ngày: 16/8/2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức.

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Chuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn”. Do Bản án sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXX - PT ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T - Sinh năm: 1987.

Nơi ĐKHKTT: Làng F, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Vương Hưng V - Sinh năm: 1980.

Nơi cư trú: Làng F, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 22/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Vương Hưng V kết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày 02/4/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới, vợ chồng sống hoà thuận được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi nhau, ngoài ra, anh V còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2014 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vương Hưng V.

- Về con chung: Chị và anh Vương Hưng V có 02 con chung là cháu Vương Hưng D, sinh ngày 22/02/2008 và cháu Vương Hưng Thái S, sinh ngày 06/7/2012. Hiện cả hai cháu đang ở với anh V. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu hàng tháng là 1.000.000₫ (một triệu đồng) đến khi các cháu thành niên. Hiện nay, chị vừa đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan về, chưa có công việc ổn định, đang sống chung với mẹ đẻ tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa và phụ giúp mẹ chị trông coi nhà nghỉ. Thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 6.000.000₫ (sáu triệu đồng).

- Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vương Hưng V trình bày:

- Về hôn nhân: Anh V trình bày thống nhất với chị T về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng. Năm 2013, anh sang Đài Loan để làm ăn. Đến năm 2014 anh đưa chị T sang Đài Loan để chữa bệnh, hai con gửi ở nhà cho ông bà nội chăm sóc. Quá trình chung sống tại Đài Loan vợ chồng hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Đến cuối năm 2018, anh về nước để nuôi con và chăm sóc mẹ già còn chị T tiếp tục ở lại Đài Loan để làm ăn kinh tế. Sau đó, anh nghe bạn bè người thân ở Đài Loan nói chị T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Trong thời gian chị T ở Đài Loan, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc. Tháng 11/2023, chị T về nước và nói muốn ly hôn với anh. Từ tháng 02/2024 đến nay, vợ chồng không sống chung với nhau, anh sinh sống tại Làng F, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, chị T sinh sống tại Phố K, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Hai vợ chồng vẫn quan tâm đến nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn và vợ chồng chưa giải quyết xong về tài sản chung thì anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vương Hưng D, sinh ngày 22/02/2008 và cháu Vương Hưng Thái S, sinh ngày 06/7/2012. Hiện cả hai cháu đang ở với anh V. Do hai cháu có nguyện vọng muốn được ở với anh nên anh đồng ý trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu hằng tháng là 5.000.000₫

(năm triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ nay cho đến khi các cháu thành niên. Chi phí nuôi dưỡng hàng tháng của cháu D là 6.000.0000đ, cháu S là 5.000.0000đ. Hiện nay, anh đang làm công nhân cho công ty đá ở xã C. Thu nhập bình quân hàng tháng từ 11.000.000đ (mười một triệu đồng) đến 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng). Các con đều đang ở cùng anh.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Hiện Tại anh Vương Hưng V chưa yêu cầu Toà án giải quyết. Nếu vợ chồng không thoả thuận được về chia tài sản chung, anh sẽ yêu cầu Toà án giải quyết sau.

Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã căn cứ: Các Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 482 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS); Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5; Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị T được ly hôn anh Vương Hưng V. Về con chung: Giao cháu Vương Hưng D, sinh ngày 22/02/2008 và cháu Vương Hưng Thái S, sinh ngày 06/7/2012 cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu hàng tháng là 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 05/2024 cho đến khi các cháu thành niên. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Ngoài ra Bản án còn tuyên về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xử sơ thẩm, ngày 28/5/2024, bị đơn anh Vương Hưng V kháng cáo, với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về giao con chung. Anh đề nghị được nuôi cháu Vương Hưng Tháo S1 còn cháu Vương Hưng D giao cho chị Trịnh Thị T chăm sóc nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị Trịnh Thị T vắng mặt, không rút đơn khởi kiện, có đơn xin xét xử vắng mặt và từ chối nhận nuôi con, bị đơn anh Vương Hưng V vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự thỏa thuận được với nhau về nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX): Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến nay thấy rằng Thẩm phán, HĐXX đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa

phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72 và Điều 234 BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Vương Hưng V. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cũng như án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên, quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự không thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như Viện kiểm sát cùng cấp được biết.

Tại phiên toà phúc thẩm, chị Trịnh Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời có quan điểm không đồng ý nội dung kháng cáo của bị đơn. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 296 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị T.

[2] Xét về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 và Điều 276 BLTTDS. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm đương sự không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện. Vì vậy, kháng cáo của bị đơn được xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn anh Vương Hưng V về yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Vương Hưng Thái S, sinh ngày 06/7/2012 và giao cháu Vương Hưng D, sinh ngày 22/02/2008 cho chị Trịnh Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng.

[3.1] HĐXX nhận thấy: Cả 02 con chung của anh V và chị T đều là con trai, hiện một cháu 16 tuổi và 01 cháu 12 tuổi, từ khi anh V và chị T đi lao động ở nước ngoài, các cháu đều ở với bố mẹ anh V, khi về nước, anh V là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con, các cháu cũng đều có nguyên vọng được ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, anh V cũng có nguyện vọng được nuôi cả hai con và yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung để đảm bảo cuộc sống cho các cháu.

Điều kiện về nơi ở và thu nhập: Hiện tại anh V và 02 con đang sinh sống tại nhà gia đình riêng của anh V, thu nhập của anh mỗi tháng từ 11 triệu đến 14 triệu đồng; Chị T đi lao động nước ngoài về tuy nhiên chưa có công việc, thu nhập ổn định, đang ở với nhà mẹ đẻ, phụ giúp mẹ đẻ trong coi nhà nghỉ của gia đình, thu nhập của chị mỗi tháng khoảng 6 triệu đồng.

Như vậy, nhận thấy điều kiện và thu nhập của anh V ổn định và tốt hơn chị T. Hai con chung của anh chị là con trai, đang ở tuổi sắp trưởng thành, cần sự quản lý và dạy dỗ của người cha hơn, việc để các cháu tiếp tục ở cùng anh V sau khi anh chị ly hôn sẽ phù hợp với tâm sinh lý, nguyện vọng của các cháu, trách gây xáo trộn về tâm lý, về sinh hoạt, học tập của các cháu và đảm bảo sự giáo dục tốt nhất từ bố đối với các con trai trong độ tuổi này. Do đó, bản án sơ thẩm xem xét các điều kiện thực tế để giao hai con chung của anh chị cho anh V nuôi dưỡng sau khi ly hôn là có căn cứ.

[3.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, cháu Vương Hưng D, sinh ngày 22/02/2008 thay đổi nguyện vọng muốn được ở với mẹ để có điều kiện học và phát triển tốt hơn. Tại cấp phúc thẩm chị T vắng mặt, nhưng có ý kiến từ chối việc nuôi con, thể hiện việc chị đang không đủ điều kiện và không đảm nhận được việc nuôi con chung sau ly hôn, nên nếu giao con chung cho chị nuôi dưỡng có thể sẽ không đảm bảo cho con sự ổn định và phát triển tốt nhất.

[4] Từ những căn cứ, nhận định nêu trên, HĐXX cấp phúc thẩm xét thấy Toà án cấp sơ thẩm giao hai con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo của anh V, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần con chung để đảm bảo việc nuôi dưỡng, giáo dục tốt nhất cho các con chung của anh V và chị T.

Trong quá trình nuôi dưỡng các con chưa thành niên, nếu thấy mức cấp dưỡng nuôi con chung không còn phù hợp, hoặc chị T có điều kiện nuôi con tốt hơn, anh V có quyền khởi kiện yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung để đảm bảo sinh hoạt và học tập của các cháu hoặc chị T có quyền làm đơn đề nghị thay đổi nuôi con bằng một vụ kiện khác.

[5] Về án phí phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh Vương Hưng V về phần giao con chung nên anh V phải chịu án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

[6] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ. Khoản 1 Điều 308; Khoản 1 Điều 28; Điều 38; Điều 148 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82

và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Vương Hưng V. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa về nuôi con chung và án phí cấp dưỡng nuôi con, cụ thể:

Giao cháu Vương Hưng D, sinh ngày 22/02/2008 và cháu Vương Hưng Thái S, sinh ngày 06/7/2012 cho anh Vương Hưng V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trịnh Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh V mỗi cháu 1.500.000₫ x 2 cháu là 3.000.000đ (ba triệu đồng)/ 1 tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 05 năm 2024 cho đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi). Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

Án phí phúc thẩm: Anh Vương Hưng V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) do kháng cáo không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) anh V đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004331 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa (anh V đã nộp đủ).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

THẨM

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- TAND, VKSND cấp cao HN;

- TAND Ngọc Lặc, TH;

- VKSND H.Ngọc Lặc, TH;

- UBND xã Yên Trung, Yên Định, TH;

- Chi cục THADS H.Ngọc Lặc, TH;

- Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Quốc Thành

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị T - Vương Hưng V “Ly hôn, tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger