TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HC-ST
Ngày: 06/9/2024
V/v: “Khiếu kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Thanh Tú và ông Trương Thanh Phong
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thanh Huế – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thúy Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hành chính thụ lý số: 34/2024/TLST-HC, ngày 04/10/2023 về “Khiếu kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXX-ST, ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QÐST-HC ngày 19/8/2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị C, sinh năm 1951; Nơi cư trú: Số C, tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
- Người bị kiện:
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn T, sinh năm 1973, nơi cư trú: Số C, tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (Giấy ủy quyền ngày 15/11/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C: Luật sư Trần Ngọc P – Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh A.
Địa chỉ: Số A, lô F, đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2.1 Ủy ban nhân dân huyện T.
Địa chỉ: Ấp Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
2.2 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A.
Địa chỉ: Số H, đường T, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Võ Thị Trần H – Phó Giám đốc Văn phòng Đ Chi nhánh T4, tỉnh An Giang.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1965;
3.2 Bà Phan Thị S, sinh năm 1970.
Cùng nơi cư trú: Số C, tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
3.3 Ông Trần Văn T, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số C, tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang;
3.4 Ông Trần Văn T1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số C, tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
(Ông T, T1; bà H và Luật sư P có mặt; Ông X, bà S; UBND huyện T và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện, bà Lê Thị C và người đại diện trình bày:
Bà Lê Thị C yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03778, ngày 24/7/2013 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị S (thửa đất số 123, tờ bản đồ số 18, tổng diện tích 3085,2m²) gồm: Đất ở tại nông thôn 600m², đất trồng cây lâu năm 2485,2m² và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03778, ngày 15/01/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị S (thửa đất số 123, tờ bản đồ số 18, tổng diện tích 2.913m²) gồm: Đất ở tại nông thôn 449,3m², đất trồng cây lâu năm 2.463,7m². Đất tọa lạc tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Lý do: Ủy ban nhân dân huyện T và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A đã cấp các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông X và bà S lên thửa đất do gia đình bà đang sử dụng khoảng 240m².
Người bị kiện:
- UBND huyện T không có ý kiến trình bày.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A trình bày tại Công văn số: 4479/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 18/12/2023 như sau:
Khu đất có diện tích 3085,2m², gồm: Đất ở tại nông thôn 600m², đất trồng cây lâu năm 2485,2m² tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang do ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị S quản lý, sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CH03778, ngày 24/7/2013 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp.
Ngày 21/12/2018, ông X, bà S chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Huỳnh Văn N và bà Lê Hồng D theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 chứng nhận cùng ngày và nộp hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
3
của UBND huyện T.
Ngày 07/01/2019, Văn phòng Đ Chi nhánh T4 chỉnh lý biến động việc chuyển nhượng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N và bà D diện tích 172,2m² còn lại diện tích 2.913m².
Do ông X, bà S chuyển nhượng 01 phần diện tích và có nhu cầu cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ngày 15/01/2019 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A đã cấp đổi số phát CQ 265045 (số vào sổ CS03778) cho ông X, bà S.
Căn cứ Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: khi người sử dụng đất thực hiện các quyền của người sử dụng đất mà cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan có thẩm quyền là Sở T. Do đó, việc Sở T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng theo yêu cầu ông X và bà S là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Nay Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang cho phép được vắng mặt trong quá trình tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị S trình bày:
Nguồn gốc đất do ông bà; cha mẹ để lại. Ngày 15/01/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà diện tích thổ cư 2.913m².
Bà Lê Thị C khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03778, ngày 24/7/2013 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp. Vợ chồng ông bà không đồng ý. Bởi vì khi cấp đất những người tứ cận đã ký tên.
- Ông Trần Văn T và Trần Văn T1 cùng trình bày: Căn cứ bản trích đo hiện trạng khu đất bổ sung ngày 23/5/2024 của Công ty H1 đã thể hiện các cây gáo do bà nội và cha các ông trồng trồng trên đất tại các điểm 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 và 88 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03778 ngày 15/01/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông X, bà S (trừ 01 cây tại vị trí số 81 không thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03778).
Do đó, việc UBND huyện T và sau này là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy cho ông X, bà S là không chính xác, yêu cầu hủy giấy.
Tại phiên tòa, ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Luật sư, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C phát biểu: Căn cứ bản trích đo hiện trạng khu đất bổ sung ngày 23/5/2024 của Công ty H1 đã thể hiện các cây gáo trên đất của ông X và bà S là do bên bà C trồng. Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 411827, ngày 24/7/2013 của UBND huyện T và Giấy
4
chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 265045, ngày 15/01/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị Si .
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Luật Tố tụng hành chính về việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.
Việc Công khai chứng cứ chưa đầy đủ, tuy nhiên tại phiên tòa bên người khởi kiện xác định Tòa án đã cho đương sự tiếp cận và pho to Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/5/2024 và thống nhất. Đương sự vắng mặt là từ bỏ quyền tiếp cận, công khai chứng cứ này.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định tại các Điều 9,10, từ Điều 55 đến Điều 58, từ Điều 115 đến Điều 119, Điều 128 Luật Tố tụng hành chính. Riêng trường hợp đương sự vắng mặt, không tham gia phiên đối thoại là chưa chấp hành nghiêm Điều 55 Luật Tố tụng hành chính.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, tuyên xử: Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 265045, ngày 15/01/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị S .
Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 411827, ngày 24/7/2013 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị S .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết, quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện:
Người khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03778, ngày 24/7/2013 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03778, ngày 15/01/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị S .
Theo đơn khởi kiện ngày 22/9/2023, bà Lê Thị C trình bày: đất bà quản lý, sử dụng từ sau năm 1975 nhưng chưa kê khai đăng ký. Đến tháng 7/2023 khi ông X, bà S yêu cầu chặt hàng gáo thì bà mới biết phần đất của ông X, bà S tiếp giáp với đất của bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khởi kiện.
5
Căn cứ Điều 32 Điều 115 và Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì bà C có quyền khởi kiện; việc khởi kiện còn trong thời hiệu và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
[1.2] Tại phiên tòa, người bị kiện là UBND huyện T; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A; ông X, bà S có yêu cầu vắng mặt hoặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 157 của Luật Tố tụng hành chính.
Khi thụ lý vụ án, Tòa án đã đưa các con của bà C gồm: ông Trần Lê Vĩnh A và bà Trần Thị T3 tham gia tố tụng. Nay, căn cứ Điều 58 của Luật Tố tụng hành chính xác định những người này không có liên quan đến quyền lợi hoặc nghĩa vụ của họ trong vụ án.
[2]. Về tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng khởi kiện:
[2.1] Về thẩm quyền ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03778, ngày 24/7/2013 diện tích 3085,2m² cho ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị Si .
Ngày 21/12/2018, ông X, bà S chuyển nhượng 01 phần diện tích cho ông Huỳnh Văn N và bà Lê Hồng D. Ngày 07/01/2019, Văn phòng Đ Chi nhánh T4 chỉnh lý biến động và UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N và bà D diện tích 172,2m², còn lại diện tích 2.913m².
Ngày 15/01/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A đã cấp đổi số phát hành CQ 265045 (số vào sổ CS03778) cho ông X, bà S là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai 2003 và Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
[2.2] Về tính hợp pháp của nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2.1] Bà Lê Thị C quản lý, sử dụng diện tích đất trồng cây lâu năm khác tọa lạc xã V, huyện T nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tiếp giáp là đất ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị S .
Tại Biên bản đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 14/5/2024 và Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 23/5/2024 thể hiện trên diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ265045 (số vào sổ CS03778) có 07/08 cây gáo lâu năm do gia đình bà C trồng phù hợp với lời khai của người làm chứng. Tuy nhiên, tại thời điểm UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu (số vào sổ CH03778, ngày 24/7/2013 diện tích 3085,2m² cho ông X và bà S) chưa xác minh rõ nguồn gốc đất nên không phát hiện trên đất cấp cho ông X và bà S đã có các cây lâu năm do bên bà Lê Thị C trồng. Từ đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đổi lần 2, số phát hành CQ 265045 (số vào sổ CS03778), ngày 15/01/2019 diện tích còn lại là 2.913m² cũng không phát hiện.
6
[2.2.2] Từ nhận định nêu trên cho thấy, việc UBND huyện T cấp lần đầu và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đổi lần 2 là chưa đúng trình tự, thủ tục và đối tượng sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Cho nên bà C khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp lần đầu và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đổi cho ông X và bà S là có căn cứ chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Tuy nhiên, khi cấp đổi lần 2 thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu đã được thu hồi. Nên bà C yêu cầu hủy cả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp lần đầu là không chính xác.
[3] Về án phí hành chính sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà C không phải chịu án phí.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng: Bà C nộp tạm ứng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ 7.450.000 đồng, bà tự nguyện chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30; khoản 2 Điều 32; khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CS03778, ngày 15/01/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị S (thửa đất số 123, tờ bản đồ số 18, tổng diện tích 2.913m²) gồm: Đất ở tại nông thôn 449,3m², đất trồng cây lâu năm 2.463,7m². Đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
- Kèm theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 23/5/2024 của Công ty TNHH H1.
- - Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03778, ngày 24/7/2013 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị Si .
- - Về án phí hành chính sơ thẩm:
7
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm.
Bà Lê Thị C không phải chịu án phí (đã được miễn nộp tạm ứng án phí).
- Chi phí tố tụng: Bà Lê Thị C tự nguyện chịu số tiền 7.450.000 đồng (đã thực hiện xong).
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Văn Hai |
Bản án số 24/2024/HC-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về khiếu kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 24/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Châu yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Thoại Sơn cấp cho ông Phan Văn Xuân và bà Lê Thị Si
