Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/DS-ST

Ngày: 06-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Hai
  2. Bà Nguyễn Thị Đẹp

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên toà:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023; về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Xuân T, Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Bạch K, Chức vụ: Phó Giám đốc.

Địa chỉ: Số A T, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 26/4/2024).

Bị đơn: Chị Phan Thị Cẩm T1, sinh năm 2004;

Địa chỉ: Số A khóm B, phường C, thành phố S, Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Thạch Kim T2, sinh năm 1982;
  2. Ông Phan Sơn N, sinh năm 1980;
  3. Ông Thạch Minh H, sinh năm 1974;
  4. Anh Phan Thạch Minh H1, sinh năm 2002;

Cùng địa chỉ: Số A, khóm B, phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông Huỳnh Bạch K, ông Phan Sơn N, bà Thạch Kim T2 có mặt tại phiên tòa; các đương sự còn lại vắng mặt. Đối với bị đơn chị Phan Thị Cẩm T1 có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, ông Huỳnh Bạch K, đại diện nguyên đơn trình bày:

Chị Phan Thị Cẩm T1 có vay tiền tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S (Gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số 6501-LAV-202202229, thời hạn hợp đồng là 60 tháng (Từ ngày 14/12/2022 đến hết ngày 14/12/2027). Hạn mức cho vay 220.000.000đ, mục đích vay để trồng hoa kiểng. Theo giải ngân số 6501-LDS-202204802 ngày 14/12/2022 số tiền vay là 217.000.000đ, hiện dự nợ 217.000.000đ, tiền lãi tạm tính đến ngày 30/6/2023 là 10.216.836đ, tổng cộng 227.216.836đ.

Để vay số tiền trên bà Thạch Kim T2 và ông Phan Sơn N (Mối quan hệ là cha mẹ của chị T1) có hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho ngân hàng theo hợp đồng số 124-2022/TC ngày 09/12/2022 để thế chấp tài sản là QSDĐ thửa 62, tờ bản đồ 12, diện tích 121,9m² (ODT), tọa lạc tại phường C, thành phố S (Theo giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa CQ 867998 do Sở Tài Nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Thạch Kim T2 đứng tên ngày 26/02/2019). Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.

Theo thỏa thuận định kỳ trả nợ gốc, lãi: Ngày 14/12/2023 trả 43.000.000đ gốc; 14/12/2024 trả 43.000.000đ gốc; 14/12/2025 trả 43.000.000đ gốc; 14/12/2026 trả 44.000.000đ gốc; 14/12/2027 trả 44.000.000đ gốc. Đối với tiền lãi ba tháng trả một lần vào ngày 25 tây của tháng thứ 3. Từ khi vay đến ngày 06/6/2023 chị T1 có trả cho ngân hàng 5.023.966đ tiền lãi rồi ngưng.

Khi đến hạn trả vốn chị T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu trả nợ bằng các thông báo đòi nợ, phía chị T1 và gia định cũng nhiều lần cam kết trả nợ nhưng không thực hiện. Từ khi vay đến nay chị T1 không có trả vốn theo định kỳ cho ngân hàng lần nào.

Nay Ngân hàng N1 – Chi nhánh Thành phố S yêu cầu chị Phan Thị Cẩm T1 trả số tiền vốn vay 217.000.000đ và lãi 10.216.836đ (Tính tới ngày 30/6/2023), tổng cộng vốn, lãi 227.216.836đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp chị T1 không trả được nợ, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ thửa 62, tờ bản đồ 12, diện tích 121,9m² (ODT), tọa lạc tại phường C, thành phố S theo giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho bà Thạch Kim T2 đứng tên ngày 26/02/2019 để thu hồi nợ.

Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.

Bị đơn chị Phan Thị Cẩm T1 vắng mặt nhưng có văn bản trình bày:

Chị Phan Thị Cẩm T1 thừa nhận có vay số tiền vốn 217.000.000đ của ngân hàng đến nay chưa trả vốn, lãi cho ngân hàng như ngân hàng trình bày là đúng. Khi vay cha mẹ chị T1 có thế chấp tài sản là QSDĐ thửa 62, tờ bản đồ 12, diện tích 121,9m² (ODT), tọa lạc tại phường C, thành phố S theo giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho bà Thạch Kim T2 đứng tên ngày 26/02/2019.

Nay chị T1 đồng ý trả số tiền vốn vay 217.000.000đ và lãi 10.216.836đ (Tính tới ngày 30/6/2023), tổng cộng vốn, lãi 227.216.836đ cho Ngân hàng, đồng ý tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ cho ngân hàng.

Trường hợp chị T1 không trả được nợ, thì chị T1 đồng ý giao tài sản thế chấp là QSDĐ thửa 62, tờ bản đồ 12, diện tích 121,9m² (ODT), tọa lạc tại phường C, thành phố S theo giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho bà Thạch Kim T2 đứng tên ngày 26/02/2019 cho ngân hàng xử lý thu hồi nợ. Chị T1 không có yêu cầu gì trong vụ kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Kim T2 và ông Phan Sơn N trình bày:

Bà Thạch Kim T2 và ông Phan Sơn N là cha mẹ của chị Phan Thị Cẩm T1. Bà T2, ông N thống nhất việc chị T1 hợp đồng vay số tiền vốn 217.000.000đ của ngân hàng đến nay chưa trả vốn, lãi cho ngân hàng. Để đảm bảo tiền vay thì bà T2, ông N có thế chấp tài sản là QSDĐ thửa 62, tờ bản đồ 12, diện tích 121,9m² (ODT), tọa lạc tại phường C, thành phố S theo giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho bà Thạch Kim T2 đứng tên ngày 26/02/2019 như ngân hàng trình bày là đúng.

Trường hợp chị T1 không trả được số tiền vốn vay 217.000.000đ và lãi 10.216.836đ (Tính tới ngày 30/6/2023), tổng cộng vốn, lãi 227.216.836đ cho Ngân hàng và lãi phát sinh theo hợp đồng thì bà T2, ông N đồng ý giao tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 124-2022/TC ngày 09/12/2022 là QSDĐ thửa 62, tờ bản đồ 12, diện tích 121,9m² (ODT), tọa lạc tại phường C, thành phố S do bà Thạch Kim T2 đứng tên cho ngân hàng xử lý thu hồi nợ. Ngoài ra, Bà T2, ông N không có yêu cầu gì trong vụ kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch Minh H (anh của bà T2) và anh Phan Thạch Minh H1 (con của bà T2, ông N) là những người ở chung nhà với bà T2, ông N vắng mặt không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đối với nguyên đơn, bị đơn có đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch Minh H và anh Phan Thạch Minh H1 vắng mặt là chưa thực hiện đúng quy định của BLTTDS.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn chị Phan Thị Cẩm T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Thạch Minh H và anh Phan Thạch Minh H1 đã vắng mặt (Chị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt). Các đương sự có mặt đồng ý và yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ kiện. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu của nguyên đơn HĐXX thấy rằng: Theo hợp đồng tín dụng số 6501-LAV-202202229 và phiếu giải ngân số 6501-LDS-202204802 cùng ngày 14/12/2022, chị Phan Thị Cẩm T1 có vay số tiền 217.000.000 đồng của Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S, thời hạn vay là 60 tháng (Từ ngày 14/12/2022 đến hết ngày 14/12/2027), lãi suất vay là 13%/năm, lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả là 10%/năm, mục đích vay để trồng hoa kiểng.

Để đảm bảo cho khoản vay, bà Thạch Kim T2 và ông Phan Sơn N (Mối quan hệ là cha mẹ của chị Phan Thị Cẩm T1) đã thế chấp tài sản là QSDĐ cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp số 124-2022/TC ngày 09/12/2022 để thế chấp thửa 62, tờ bản đồ 12, diện tích 121,9m² (ODT), tọa lạc tại phường C, thành phố S, theo giấy chứng nhận QSDĐ do Sở Tài Nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Thạch Kim T2 đứng tên ngày 26/02/2019. Qua xem xét, thẩm định thì tài sản thế chấp thửa 62 hiện do ông N, bà T2 đang quản lý, sử dụng, trên đất có một căn nhà của hộ bà T2, ông N đang ở (Không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà). Các tình tiết này được các bên đương sự thừa nhận nên không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS.

Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định: được lập thành văn bản có công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, hợp đồng thế chấp QSDĐ có hiệu lực pháp luật nên tài sản thế chấp được đảm bảo thi hành cho số nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Theo thỏa thuận định kỳ trả nợ gốc, lãi: Ngày 14/12/2023 trả 43.000.000đ gốc; 14/12/2024 trả 43.000.000đ gốc; 14/12/2025 trả 43.000.000đ gốc; 14/12/2026 trả 44.000.000đ gốc; 14/12/2027 trả 44.000.000đ gốc. Đối với tiền lãi 3 tháng trả /1 lần vào ngày 25 tây của tháng thứ 3. Tuy nhiên, từ khi vay đến nay chị T1 không thực hiện trả nợ như đã thỏa thuận với ngân hàng, nên đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay, mặc dù phía ngân hàng nhiều lần nhắc nhở trả nợ nhưng chị T1 đã không thực hiện.

Từ đó cho thấy ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị T1 trả nợ vay 217.000.000đ vốn và 10.216.836đ lãi (Tính tới ngày 30/6/2023), tổng cộng vốn, lãi 227.216.836đ và lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ cho ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

Về phía bà T2, ông N, như Hội đồng xét xử đã nhận định hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực pháp luật nên trường hợp chị T1 không trả được nợ thì buộc bà T2, ông N có trách nhiệm giao tài sản theo hợp đồng thế chấp để cơ quan thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Thạch Minh H và anh Phan Thạch Minh H1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án ở chung địa chỉ số A, khóm B, phường C, thành phố S. Các đương sự không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng, nên căn cứ theo quy định tại Điều 91 BLTTDS xem như các đương sự đã từ bỏ quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên không xem xét giải quyết.

[3] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Qua đó, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và chi phí xem xét thẩm định theo quy định pháp luật. Do Ngân hàng đã nộp chi phí thẩm định 200.000đ, do đó chị T1 có nghĩa vụ hoàn trả chi phí thẩm định cho Ngân hàng 200.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 317, 318, 320, 322, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S.
  2. Buộc bị đơn chị Phan Thị Cẩm T1 trả cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S số tiền vốn vay 217.000.000đ và lãi 10.216.836đ (Lãi tính đến ngày 30/6/2023), tổng cộng vốn, lãi 227.216.836đ (Hai trăm hai mươi bảy triệu hai trăm mười sáu ngàn tám trăm ba mươi sáu đồng).

    Số tiền vốn vay được tiếp tục tính lãi từ ngày 01/7/2023 theo lãi suất tại Hợp đồng tín dụng ngày 14/12/2022 cho đến khi chị Phan Thị Cẩm T1 trả xong nợ cho ngân hàng.

    Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp ngày 09/12/2022 để thu hồi nợ.

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định: Chị Phan Thị Cẩm T1 phải hoàn trả số tiền 200.000đ cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phan Thị Cẩm T1 nộp 11.360.800đ (Lấy số tròn) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.680.000đ theo biên lai số 0003213 ngày 05 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Chi cục Thi hành án TP Sa Đéc;
  • - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu chị T trả tiền nợ vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger