|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG BÌNH |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/DS-PT
Ngày: 14 - 5 - 2024
"V/v: tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa và ông Trần Trung Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2024/TLPT- DS ngày 15/01/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2023/DS - ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 84/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1962, địa chỉ: thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thu P1, sinh năm 1990, địa chỉ: Số nhà B đường N, phường Đ, TP Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn: Ông Trần L, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1978; địa chỉ: thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, ông L vắng mặt, bà H có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Phạm Anh V và bà Bùi Thị Thiên L1, địa chỉ: Công ty L2, 223 A P, B, Đ, Quảng Bình, ông V có mặt, bà L1 vắng mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984, địa chỉ: thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986, địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989, địa chỉ: thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn Trần L và bà Phạm Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn bà Trần Thị P, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Tháng 4/1990, bà P về làm nhà ở trên mảnh đất hoang tại thôn L phía trước nhà kho Hợp tác xã L3 (nay là thôn N). Tại đây gia đình bà P đã khai hoang, phá những đống chông chông để làm nhà ở, được UBND xã chấp thuận và đóng lệ phí 15.000 đồng (mười lăm nghìn đồng) có biên nhận của xã (nay đã mất) và xác nhận của những người giao đất và sinh sống ở thời điểm đó (gồm các ông Nguyễn Viết H1, Nguyễn Thế K). Sau khi được Ủy ban xã chấp thuận, bà P đã rào xung quanh vườn lại. Bà P về tại thửa đất này làm nhà từ năm 1990, còn Hợp tác xã Lý Nhân N cuối năm 1991 mới giải thể. Năm 1992, Hợp tác xã chỉ bán phần nhà kho cho ông Trần Đ (là cha của ông Trần L), thời điểm đó, gia đình ông Trần Đ mở cổng đi vào nhà là hướng Bắc chứ không phải hướng Nam như bây giờ (có xác nhận của ông Nguyễn Tiến K1, trưởng thôn N, nguyên Bí thư Chi đoàn L3). Gia đình bà P về trước và vườn tược đã rào chè từ dãy kho nước mắm của HTX ra sát đất có chông chông phía Đông. Đến tháng 3/1998, ông Đ đã tập kết vật liệu sửa lại nhà và có đề nghị đi qua vườn nhà bà P, nên từ đó bà P không rào vì nghĩ để tạo điều kiện cho hàng xóm sửa chửa nhà cửa. Năm 1997, thửa đất gia đình bà P đang sử dụng được UBND huyện B xem xét, rà soát, đo đạc và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H772597, tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 08, diện tích 474 m² (gồm 200 m² đất ở và 274 m² đất vườn), cấp ngày 01/9/1997 tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình (phía Đông giáp thửa đất số 472 của nhà ông Lê Văn H2, phía Nam giáp thửa đất số 502 của nhà ông Đinh Như Q, phía Bắc giáp thửa đất số 469 của nhà ông Trần Đ). Sau khi được cấp đất gia đình bà P sống ổn định, liên tục trên mảnh đất từ năm 1990 đến nay. Năm 2009, trong quá trình đo đạc, lập bản đồ, cấp sổ hồng theo chủ trương của Nhà nước, gia đình bà P đã có ý kiến đối với việc sử dụng đất
của ông Trần L, bà Phạm Thị H với lý do đất tranh chấp chưa giải quyết, nhưng các đơn vị đo đạc đã tách thửa đất số 262, tờ bản đồ số 08 của gia đình bà P thành hai thửa: thửa đất số 503, diện tích 212,8 m² và thửa đất số 470, diện tích 122,8 m², tờ bản đồ số 08 và con đường đi ngang vào nhà ông Trần Đ (bố ông L) giữa hai thửa đất nói trên.
Từ năm 2008 - 2009, thời điểm chồng bà P là ông Nguyễn Duy T3 (Nguyễn T3) còn sống đã nhiều lần trao đổi với gia đình ông Trần Đ về việc sử dụng đất và báo cáo lên UBND xã N, UBND huyện B để giải quyết nhưng không thành. Năm 2011, chồng bà P mất, sau thời điểm chồng bà P mất, gia đình ông Trần L là con của ông Trần Đ tiến hành xây dựng hàng rào ngăn đôi thửa đất của gia đình bà P. Gia đình bà P không đồng ý và không cho ông Trần L tiến hành xây dựng, tuy nhiên vì hoàn cảnh mẹ góa, con côi, phụ nữ không thể chống lại, thiếu hiểu biết pháp luật nên gia đình ông Trần L vẫn ngang nhiên xây dựng hàng rào ngăn đôi thửa đất. Sau đó, gia đình ông Trần L tiếp tục xây dựng hàng rào phía trước nhà, bà P đã báo cáo lên UBND xã N, huyện B và đồng chí Nguyễn Văn C là công chức địa chính xã thời điểm đó đã xuống kiểm tra và yêu cầu gia đình ông Trần L dừng thi công và đoạn tường rào lúc đó mới xây được hai lối tập lô. Do đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành nên bà P yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề: Tuyên hủy một phần tờ bản đồ số 08, lập ngày 11/5/2011 liên quan đến thửa đất số 470 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q phê duyệt. Tuyên thửa đất số 470, diện tích 118,8 m² (theo kết quả đo đạc thực tế) và con đường đi vào nhà ông L, bà H có diện tích 27,8 m², tờ bản đồ số 08 tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình bà Trần Thị P và T4 buộc gia đình ông L, bà H thu hồi tài sản trên thửa đất số 470 và con đường thuộc tờ bản đồ số 8 để trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm cho gia đình bà.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bà P thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Rút yêu cầu tuyên hủy một phần tờ bản đồ số 08, lập ngày 11/5/2011 liên quan đến thửa đất số 470 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q phê duyệt. Xét về tình làng, nghĩa xóm và hiện trạng thực tế sử dụng đất của ông L, bà H, bà P tự nguyện thỏa thuận dành một diện tích đất 19,4m² ở phần cuối của thửa đất 470 (hướng Đông) giao cho ông L, bà H làm đường đi, có kích thước tứ cận từ điểm 7' đến điểm 7 có kích thước 2m, từ điểm 7 đến điểm 6, có kích thước 9,69m, từ điểm 6' đến 6 có kích thước 2m, từ điểm 6 đến điểm 7 có kích thước 9,93m và không yêu cầu ông L, bà H bồi thường trị giá về đất. Tại phiên tòa hôm nay bà P thay đổi không thoả thuận nội dung này nữa, vì lý do bà đã có thiện chí như
trên, nhưng ông L, bà H không nhất trí nhận phần diện tích đất làm đường. Các yêu cầu khác bà P giữ nguyên.
Bị đơn ông Trần L và bà Phạm Thị H trình bày:
Phần diện tích đất hiện nay bà Trần Thị P đang tranh chấp với ông L, bà H có nguồn gốc trước đây là đất của hợp tác xã L3. Sau khi hợp tác xã L3 giải thể đã bán lại cho bố mẹ ông L là bà Nguyễn Thị V1 (đã mất) và ông Trần Đ (đã mất). Việc mua bán không có văn bản giấy tờ gì. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông L đã quản lý sử dụng và canh tác từ năm 1990 đến khi bố mẹ ông L mất vào năm 2021 thì có giao cho ông L, bà H sử dụng phần đất này. Quá trình quản lý sử dụng bố mẹ ông L có trồng một số cây dương trên phần diện tích đất vào năm 1991. Sau đó có xây tường bao quanh khuôn viên, khi xây dựng tường rào có gọi bà P ra để chỉ ranh giới, quá trình bố mẹ ông L quản lý sử dụng và giao lại cho ông L, bà H không ai có ý kiến hay tranh chấp gì. Vì vậy, ông L, bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn T2 cùng thống nhất trình bày:
Thống nhất với toàn bộ nội dung mà bà Trần Thị P (mẹ của các anh, chị) đã trình bày và nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp (thời điểm sử dụng đất, thời điểm được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích được cấp...).
Người làm chứng ông Nguyễn Thế K trình bày:
Ông nguyên là Kế toán trưởng HTX L3, xã N (1984 - 1992). Năm 1990 gia đình bà Trần Thị P và ông Nguyễn Duy T3 (Nguyễn T3) về khai hoang, cải tạo bãi đất hoang trước mặt nhà HTX và làm nhà tại khu đất đó để sinh sống, có đóng lệ phí cho xã N 15.000đ. Đến năm 1992 HTX giải thể, ngôi nhà kho của HTX L3 đã nhượng bán lại cho ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị V1 (bố mẹ ông Trần L) chứ không chuyển nhượng quyền sử dụng đất (vì HTX không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất), nhà kho HTX này cách diện tích đất của bà P và ông Đ1 sử dụng khoảng 10 đến 15m. Như vậy, gia đình ông Nguyễn Duy T3 (Nguyễn T3) và bà Trần Thị P ở đó trước ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị V1 02 năm.
Người làm chứng ông Nguyễn Tiến K1 trình bày:
Ông nguyên là Bí thư Chi đoàn L3 từ năm 1980 đến 1992. Sau khi HTX L3 giải thể, ngôi nhà HTX được nhượng bán cho gia đình ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị V1 (bố mẹ ông Trần L). Đến năm 1996, bản thân ông là người trực tiếp cùng cán bộ đo đạc đất của từng hộ
trong thôn để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời gian đó gia đình ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị V1 (bố mẹ ông Trần L) mở cổng đi vào nhà từ hướng Bắc chứ không phải là hướng Nam như hiện nay. Sau khi các gia đình được cấp giấy CNQSD đất đến khi có chủ trương đo đạc địa chính cấp lại giấy CNQSDĐ nhưng do tranh chấp giữa hai gia đình ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị V1 với bà Trần Thị P và ông Nguyễn Duy T3 (N) đã được UBND xã mời đến giải quyết tranh chấp nhưng không thành, việc tranh chấp diễn ra cho đến nay.
Người làm chứng ông Nguyễn Viết H1 trình bày:
Ông nguyên là thủ kho kiêm thủ quỹ của HTX L3 từ năm 1984 đến 1992. Năm 1990 gia đình bà Trần Thị P và ông Nguyễn Duy T3 (Nguyễn T3) về khai phá khu đất trước mặt nhà Văn phòng L3 và đã đóng lệ phí cho xã N 15.000đ, giữa năm 1992 HTX giải thể và chuyển nhượng văn phòng HTX cho ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị V1 (bố mẹ ông Trần L) chứ không chuyển nhượng quyền sử dụng đất (vì HTX không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất), nhà kho HTX này cách diện tích đất của bà P và ông T3 sử dụng khoảng 10 đến 15m.
Tại Bản án số: 26/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của TAND huyện Bố Trạch đã quyết định: Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ Điều 8, Điều 11 và Điều 14 Bộ luật dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu tuyên hủy một phần Tờ bản đồ số 08, lập ngày 11/5/2011 liên quan đến thửa đất số 470 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q phê duyệt của bà Trần Thị P.
- Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P, về việc buộc ông Trần L và bà Phạm Thị H trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp có tổng diện tích 146,6 m² (118,8 m² + 27,8 m²) thuộc thửa 470, tờ bản đồ số 08 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q phê duyệt 11/5/2011 tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình. (cụ thể diện tích, tứ cận có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Buộc ông Trần L và bà Phạm Thị H khai thác, tháo dỡ, thu hồi và di dời tài sản, cây trồng trên toàn bộ thửa đất 470, tờ bản đồ số 08 để trả lại nguyên trạng sử dụng đất cho bà Trần Thị P. Kiến nghị cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền chỉnh lý lại thông tin thửa đất 262, tờ bản đồ số 08, số phát hành H772597 ngày 01/9/1997
cấp cho ông Nguyễn T3 (chồng bà P) và thửa đất số 470 (ký hiệu BCS), tờ bản đồ số 08, năm 2011 có diện tích 118,8 m² (theo kết quả đo đạc thực tế) và con đường đi vào nhà ông L bà H có diện tích 27,8 m² phù hợp với kết quả xét xử theo bản án của Tòa án sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 13/12/2023, bị đơn ông Trần L và bà Phạm Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, theo yêu cầu của bị đơn ông Trần L, bà Phạm Thị H. Ngày 20/3/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ hiện trạng sử dụng đất và định giá tài sản đang tranh chấp. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định:
Hiện trạng sử dụng thửa đất số 470, tờ bản đồ số 8, hiện nay ông Trần L, bà Phạm Thị H đang sử dụng theo bản đồ địa chính là đất BCS do UBND xã quản lý có số đo và tứ cận: phía Bắc giáp thửa đất số 469; phía Nam giáp đường giao thông nội thôn; phía Tây giáp con đường đang tranh chấp; phía Đông giáp thửa đất số 472. Tổng diện tích thửa 470 đo đạc thực tế là: 114,8m². Tài sản trên đất gồm có: 09 cây dương (các bên thống nhất cây dương do ông Trần Đ bố ông Trần L trồng khoảng năm 1992-1993). Ngoài ra có một số chậu cây cảnh, cây xương rồng, 01 bụi dứa, 01 cây bồ đề, trên diện tích đất ông L, bà H để các vật dụng ngư cụ như lưới, thùng... Các bên đương sự không yêu cầu xem xét thẩm định mà thống nhất sau này đất giao cho ai người đó được hưởng hoặc tự di dời trả lại mặt bằng. Hiện trạng con đường ở giữa thửa đất số 470 và 503, tờ bản đồ số 8: Phía Bắc giáp thửa đất số 469; phía Tây giáp thửa đất số 503; phía Đông giáp thửa đất số 470; phía Nam giáp đường bê tông nội thôn. Diện tích con đường là 25,1m². Tài sản trên đất: Đường được láng nền xi măng, có hàng rào, bờ móng xây theo lối đi, 02 trụ cổng, cổng gỗ. Hiện trạng sử dụng thửa đất số 469, tờ bản đồ số 08: phía Đông giáp thửa đất số 471; phía Tây giáp thửa đất số 501; phía Nam giáp con đường đang tranh chấp, một phần thửa đất số 470 và một phần thửa đất số 503; phía Bắc giáp đường giao thông nội thôn. Thửa đất 469 ông L, bà H đang sử dụng có diện tích 497,5 m². Tài sản trên đất: có 02 ngôi nhà: 01 nhà cấp 4 diện tích 110,0 m² ông L, bà H đang sử dụng; 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 89,5m² anh V2, chị H3 (cháu nội ông Đ) sử dụng. Hiện trạng sử dụng thửa đất số 503, tờ bản đồ số 08: Phía Đông giáp con đường đang tranh chấp; phía Tây giáp thửa đất số 502; phía Bắc giáp thửa đất số 469; phía Nam giáp đường giao thông
nội thôn. Diện tích đất bà P thực tế đang sử dụng là 215,7m². Tài sản trên đất: có 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích 96,6m²
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Bị đơn sử dụng đất ổn định từ năm 1990 cho đến nay, nguyên đơn cũng công nhận bị đơn sử dụng phần diện tích đất tranh chấp từ trước đến nay và nguyên đơn bỏ mặc diện tích đất này. Việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy CNQSDĐ cho ông Nguyễn T3 (chồng bà Trần Thị P) trong khi bị đơn đang sử dụng đất và có tài sản cây trồng trên đất là không đúng. Hiện nay phần diện tích tranh chấp thuộc thửa đất số 470 được quy chủ cho UBND xã quản lý là không đúng. Đề nghị HĐXX bác đơn khởi kiện của nguyên đơn và công nhận phần diện tích đất tranh chấp cho bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua xem xét đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự thấy. Trong quá trình sử dụng đất, chỉnh lý bản đồ địa chính và cấp giấy CNQSDĐ của hai bên đương sự còn có nhiều mâu thuẩn, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ của hai bên đương sự để làm rõ quá trình cấp giấy CNQSDĐ cho hai bên có thực hiện việc ký biên bản xác định ranh giới, mốc giới, diện tích không. Quá trình sử dụng đất của hai bên đương sự có sự biến động như thế nào. Mặt khác, lối vào nhà chính và ngôi nhà của bị đơn hiện nay quay mặt về hướng Đ, ngoài ra không có lối vào nhà nào khác, nhưng nguyên đơn và những người làm chứng xác nhận trước đây bị đơn mua lại nhà kho HTX L3 có lối vào nhà kho hướng Bắc. UBND xã N xác định vào năm 2011 trên thửa đất tranh chấp chỉ có cây Phi lao (09 cây theo kết quả thẩm định) các bên đương sự đều thống nhất cây phi lao là do bố bị đơn trồng từ khoảng năm 1992 - 1993. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn thừa nhận năm 1992 HTX mới giải thể bán lại cho bố bị đơn nhà kho HTX để làm nhà ở, không có đất, còn thừa nhận việc bị đơn trồng cây phi lao trên đất của nguyên đơn. Như vậy, theo phần trình bày của bị đơn và sự thừa nhận của nguyên đơn thì gia đình bị đơn đã sử dụng phần diện tích đất tranh chấp, nay là thửa đất số 470, tờ bản đồ số 8 từ năm 1992 trước khi quy chủ, cấp giấy
CNQSDĐ cho nguyên đơn. Quá trình bị đơn sử dụng đất, nguyên đơn không có ý kiến phản đối, khiếu nại gì. Đến năm 2021 mới phát sinh tranh chấp, nguyên đơn cho rằng trước đó không biết, không dám có ý kiến. Đến năm 2005 khi bị đơn tiến hành xây dựng công trình trên đất (xây hàng rào, làm đường vào nhà) thì mới biết và có ý kiến, nhưng đến năm 2009 mới khiếu nại. Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm chưa lấy ý kiến của UBND huyện B để làm rõ khi cấp giấy CNQSDĐ cho hai bên đương sự có xem xét hiện trạng sử dụng đất thực tế của hai bên đương sự không, có bị cấp chồng lấn lên đất bị đơn sử dụng không. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện việc thu thập chứng cứ đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được và đánh giá chứng cứ chưa chính xác. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308, 310 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 04/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử vụ án. Ngày 13/12/2023 bị đơn ông Trần L và bà Phạm Thị H làm đơn kháng cáo, đơn kháng cáo làm trong hạn luật định, nội dung, hình thức đúng quy định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được thụ lý để xét xử phúc thẩm.
Tại đơn khởi kiện ngày 29/8/2022, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu T4 hủy một phần tờ bản đồ số 08, xã N lập ngày 11/5/2011 liên quan đến thửa đất số 470 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q phê duyệt. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện này, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị P về tuyên hủy một phần tờ bản đồ số 08, xã N. Nội dung này không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[2] Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần L, bà Phạm Thị H, Hội đồng xét xử, nhận thấy:
Xét nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của gia đình ông Nguyễn T3 và gia đình ông Trần Đ. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Thửa đất số 262, tờ bản đồ số 8, diện tích 474m² (trong đó 200m² đất ở và 274m² đất vườn), tại xã N, huyện B được vợ chồng ông T3, bà P khai hoang làm nhà từ năm 1990 và được UBND xã N chấp nhận, vợ chồng bà P đã đóng lệ phí. Còn thửa đất số 235, tờ bản đồ số 8, diện tích 442m² (trong đó 200m² đất ở và 242m² đất vườn), tại xã N, huyện B được vợ chồng ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị V1 mua lại nhà kho của Hợp tác xã Lý Nhân N vào năm 1992 để cải tạo sử dụng làm nhà ở. Thời điểm này phần diện tích đất của gia đình bà P phía Bắc tiếp giáp phần diện tích đất của nhà kho HTX Lý Nhân N, về phía Nam không có đường đi nào, nhưng gia đình bà P làm nhà trên một phần diện tích đất, một phần diện tích đất để trống không làm gì, còn nhà kho HTX Lý Nhân N, phía Bắc giáp đường giao thông, nên đường vào nhà kho HTX từ phía Bắc (việc này được một số người làm chứng gồm ông Nguyễn Thế K, ông Nguyễn Tiến K1 và ông Nguyễn Viết H1 là các cán bộ của Hợp tác xã L3 thời kỳ 1984 - 1992 xác nhận và phù hợp với bản đồ địa chính xã N năm 1996). Trong quá trình quản lý, sử dụng đất gia đình bà P không sử dụng hết diện tích, nên gia đình ông Đ khi sửa chữa cải tạo nhà kho HTX để làm nhà ở, đã tự ý mở đường đi qua diện tích đất gia đình bà P và trồng một số cây cối như cây phi lao, xương rồng, dứa dại, cây bồ đề và dùng để ngư cụ trên một phần diện tích đất của gia đình bà P. Gia đình bà P đã nhiều lần yêu cầu gia đình ông Đ trả lại đất, nhưng gia đình ông Đ không đồng ý, nên đã báo với UBND xã N giải quyết, nhưng không được giải quyết dứt điểm. Đến năm 1997, có chủ trương cấp giấy CNQSDĐ cho các hộ dân trên địa bàn xã N, huyện B. Căn cứ vào tờ bản đồ địa chính số 08, xã N năm 1996, ngày 01/9/1997, UBND huyện B cấp giấy CNQSDĐ số phát hành H772703, thửa đất 262, tờ bản đồ số 8, diện tích 474 m² (trong đó đất ở 200m² và 274m² đất vườn), tại xã N, huyện B mang tên ông Nguyễn Trinh . Cùng ngày 01/9/1997, UBND huyện B cấp giấy CNQSDĐ số phát hành H 772597, thửa đất số 235, tờ bản đồ số 8, diện tích 442m² (trong đó 200m² đất ở và 242m² đất vườn), tại xã N, huyện B mang tên ông Trần Đ. Sau khi được cấp giấy CNQSDĐ gia đình ông Nguyễn T3 và gia đình ông Trần Đ không ai có ý kiến khiếu nại gì về ranh giới, kích thước, diện tích thửa đất được cấp giấy CNQSDĐ (quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu các cơ quan chức năng cung cấp hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ, cấp đổi giấy CNQSDĐ của gia đình bà P và gia đình ông Đ, nhưng các cơ quan chức năng không cung cấp). Do đó, có căn cứ xác định thửa đất của gia đình bà P và gia đình ông Đ đã được UBND huyện B cấp giấy CNQSDĐ là
phù hợp với quy định tại các Điều 19, 20, 36 Luật đất đai năm 1993, Điều 50 Luật đất đai năm 2003 và Điều 100 Luật đất đai năm 2013.
Đến tháng 06/2009 xí nghiệp đo đạc bản đồ Nông nghiệp 1 tiến hành đo vẽ lại bản đồ địa chính xã N. Sau khi ông T3 chết, gia đình ông Đ tiếp tục xây dựng tường rào bao quanh, đổ bê tông đường đi vào nhà và làm cổng phần diện tích mà gia đình ông Đ đã sử dụng diện tích đất của gia đình bà P. Đến năm 2011, chỉnh lý bản đồ địa chính xã N (đã được sở T phê duyệt ngày 11/5/2011). Thửa đất số 235, tờ bản đồ số 8, diện tích 442m² được chỉnh lý thành thửa đất số 469, tờ bản đồ số 08, diện tích 505.4m² quy chủ sử dụng cho gia đình ông Đ, bà V1; thửa đất số 262, tờ bản đồ số 8, diện tích 474m² được chỉnh lý thành các thửa đất số 503, tờ bản đồ số 8, diện tích 211,3m² quy chủ sử dụng cho gia đình ông T3, bà P; thửa đất số 470 (BCS), tờ bản đồ số 8, diện tích 122,8m² quy chủ cho UBND xã N quản lý và một phần diện tích làm đường vào nhà ông Đ, bà V1. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, sử dụng đất gia đình bà P và gia đình ông Đ đã thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định tại các Điều 73, 79 Luật đất đai năm 1993; các Điều 105, 107 Luật đất đại năm 2003 và các Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013. Dẫn đến khi tiến hành đo vẽ chỉnh lý bản đồ địa chính năm 2011, các cơ quan chức năng thiếu kiểm tra, xác minh nguồn gốc các thửa đất được cấp giấy CNQSDĐ cho gia đình bà P và gia đình ông Đ, nên khi đo vẽ chỉnh lý bản đồ địa chính xã N năm 2011, chỉ căn cứ thực tế hiện trạng thửa đất do gia đình bà P và gia đình ông Đ đang sử dụng (theo trả lời tại Công văn số 270/UBND ngày 05/4/2024 của UBND xã N thì tại thời điểm năm 2009 kết quả đo vẽ lại bản đồ địa chính được thực hiện theo hiện trạng sử dụng đất), nên khi đo vẽ diện tích thửa đất của gia đình bà P, đã tách phần diện tích thửa đất của gia đình bà P được cấp giấy CNQSDĐ năm 1997 thành ba phần diện tích đất là chưa đảm bảo chính xác, chưa đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, kết quả đo vẽ theo Tòa án cấp sơ thẩm có chênh lệch số liệu so với kết quả đo vẽ của Tòa án cấp phúc thẩm, nhưng đây là chênh lệch số liệu cho phép. Với lại, các bên đương sự đều nhất trí kết quả đo vẽ của Tòa án cấp phúc thẩm. Vì vậy, căn cứ kết quả đo vẽ tại cấp phúc thẩm để xem xét giải quyết, theo kết quả xem xét thẩm định tại chổ thì thửa đất số 262 (nay là thửa đất số 503) của gia đình bà P đang sử dụng, có diện tích 215,7m² ít hơn so với diện tích được cấp giấy CNQSDĐ năm 1997 là 258,3m². Tuy nhiên, theo bản đồ địa chính năm 1996 và giấy CNQSDĐ được cấp cho gia đình bà P năm 1997, thì cộng thửa đất số 503, 470
và phần diện tích đường vào thửa đất 235 (nay là thửa đất số 469) thì phần diện tích đất của gia đình bà P vẫn ít hơn so với diện tích gia đình bà P được cấp giấy CNQSDĐ năm 1997. Còn thửa đất số 235 (nay là thửa đất số 469) của gia đình ông Đ (do ông L, bà H) sử dụng, có diện tích 497,5m² nhiều hơn diện tích được cấp giấy CNQSDĐ năm 1997 là 37,5m², chưa kể phần diện tích thửa đất số 470 là 114,8m² và con đường đi vào thửa đất số 469, diện tích 25,1m² mà ông L, bà H sử dụng. Như vậy, có căn cứ xác định khi sử dụng đất, ông L và bà H đã sử dụng đất không đúng vị trí, ranh giới, diện tích đã được cấp giấy CNQSDĐ, vượt quá phần diện tích của ông Trần Đ được cấp giấy CNQSDĐ năm 1997, sử dụng toàn bộ thửa đất 470, diện tích 114,8m² và con đường đi vào thửa đất 469, diện tích 25,1m² là không đúng với quy định tại các Điều 175, 176, 189, 190 Bộ luật dân sự năm 2015 và không đúng với quy định của Luật đất đai năm 2003 và 2013. Vì vậy, cần buộc gia đình ông Đ (ông L, bà H) đang sử dụng trả lại thửa đất số 470, diện tích 114,8m² và con đường đi vào thửa đất số 469, diện tích 25,1m² và tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản trên các phần diện tích đất trên để trả lại cho bà P là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà P là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần L và bà Phạm Thị H. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS - ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố trạch, tỉnh Quảng Bình.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn ông Trần L, bà Phạm Thị H không được chấp nhận, nên phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng: Tại cấp phúc thẩm bị đơn ông Trần L, bà Phạm Thị H có yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ chi phí hết 4.900.000 đồng, do ông L, bà H kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu. Số tiền này ông L, bà H đã nộp đủ và chi phí hết.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 148, 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 175, 176, 189, 190 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 19, 20, 36, 73, 79 Luật đất đai năm 1993; các Điều 50, 105, 107 Luật đất đai 2003; các Điều 100, 166, 170, 203 Luật đất đai 2013. Căn cứ khoản 2 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần L, bà Phạm Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 26/2023/DS - ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P, về việc buộc ông Trần L và bà Phạm Thị H trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp có tổng diện tích 139,9m² (114,8 m² + 25,1m²) thuộc thửa 470, tờ bản đồ số 08, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q phê duyệt 11/5/2011, tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, cụ thể:
Bà Trần Thị P được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 114,8m² thuộc thửa đất số 470 (được giới hạn từ các điểm 3, 4, 5 và 21), có tứ cận: hướng Đông giáp với thửa đất số 472; hướng Tây giáp với thửa 503; hướng Nam giáp đường giao thông nông thôn; hướng Bắc giáp thửa đất số 469.
Bà Trần Thị P được quyền quản lý, sử dụng diện tích con đường đi vào nhà ông L, bà H 25,1m² thuộc thửa đất số 470 (được giới hạn từ điểm 5, 6, 22 và 21 ), có tứ cận như sau: hướng Đông giáp với thửa đất số 470; hướng Tây giáp với thửa đất số 503; hướng Nam giáp đường giao thông nông thôn; hướng Bắc giáp với thửa đất số 469. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Buộc ông Trần L và bà Phạm Thị H khai thác, tháo dỡ, thu hồi và di dời tài sản, cây trồng trên toàn bộ thửa đất 470, tờ bản đồ số 08 để trả lại nguyên trạng quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị P, bao gồm: Khai thác và di dời: 09 cây dương, trong đó: 05 cây đường kính từ 15cm đến 25cm; 04 cây có đường kính trên 25cm; chậu cây cảnh; cây xương rồng; bụi dứa, cây bồ đề.
Tháo dỡ và di dời: 01 hàng rào xây gạch bloc, xây tô do bà H, ông L xây dựng năm 2005, có chiều cao 1,4m, chiều dài 11,3m (nằm trong giới hạn từ điểm 7, 6 và 22); 01 hàng rào phía trước gắn liền với cổng, đoạn 1 có chiều cao 1,25m, dài 2,3m; đoạn 2 có chiều dài 8,7m, cao 0,5m (nằm trong giới hạn từ điểm 4 đến 6); 01 bờ móng gạch do ông L, bà H xây dựng năm 2004 cao 0,20m, dài 11,5m, dày 0,1m
(nằm trong giới hạn từ điểm 5 đến 21); 01 sân bê tông dài 13,6m, rộng 2,2m (con đường đi vào nhà ông L, bà H, nằm trong giới hạn từ điểm 5, 6, 22 và 21 ) và 01 cổng bằng gỗ (theo sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Kiến nghị cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền chỉnh lý lại thông tin thửa đất số 262, tờ bản đồ số 08, số phát hành H772597 ngày 01/9/1997 cấp cho ông Nguyễn T3 (chồng bà P) và thửa đất số 470 (ký hiệu BCS), tờ bản đồ số 08 năm 2011, có diện tích 114,8 m² (theo kết quả đo đạc thực tế) và con đường đi vào nhà ông L, bà H có diện tích 25,1m² phù hợp với kết quả xét xử theo bản án của Tòa án sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Trần L, bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0002509 ngày 19/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.
- Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Ông Trần L, bà Phạm Thị H phải chịu 4.900.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản. Số tiền này ông L, bà H đã nộp đủ và chi phí hết.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Dương Viết Hải |
Bản án số 24/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 24/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn
