Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 24/2021/HNGĐ-ST

Ngày 03 tháng 03 năm 2021

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Cao Thị Cúc
  2. Ông Đào Đức Phú

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2020/ HNGĐ -ST ngày 21 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm: 1992;

HKTT: Số 02, ngõ 399, đường N, khu 1, phường T, thành phố Bắc Ninh (Có mặt).

Bị đơn: Anh Vũ Mạnh Th, sinh năm: 1988;

HKTT: Số 02, ngõ 399, đường N, khu 1, phường T, thành phố Bắc Ninh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 11 năm 2020 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị V và anh Th đăng ký kết hôn ngày 23/03/2016 tại Ủy ban nhân dân phường T. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và được bố mẹ tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn anh Th, chị V về chung sống tại số 02, ngõ 399 đường N, Khu 1, phường T, thành phố Bắc Ninh cùng bố mẹ chồng. Sau đó chuyển ra sống riêng tại căn hộ 708, Chung cư Hudland Tr, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh Th hiện đã có người phụ nữ khác, tuy vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị V được ly hôn với anh Th.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thiện Nh sinh ngày 03/09/2016. Hiện cháu Nh đang ở cùng với cả 2 vợ chồng. Khi ly hôn chị V đề nghị được nuôi con chung là cháu Vũ Thiện Nh và không yêu cầu đóng góp phí tổn nuôi con. Sau ly hôn chị V vẫn ở tại chung cư Hudland Tr, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Chị V hiện đang làm việc tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và kinh doanh Bất động sản H có thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nh.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Không yêu cầu tòa giải quyết.

Phía bị đơn là anh Vũ Mạnh Th trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị V kết hôn với nhau năm 2016. Trước khi kết hôn vợ chồng có được tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung cùng gia đình anh tại phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau chuyển ra sống riêng tại căn hộ 708, Chung cư Hudland Tr, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận được thời gian đầu, sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung. Đến khoảng tháng 1 năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tuy vẫn sống chung một nhà nhưng ai làm việc người đó, không ai quan tâm đến ai và sống ly thân từ đó đến nay. Vì vậy, nay chị V xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thiện Nh sinh ngày 03/09/2016. Hiện cháu Nh đang ở cùng với cả 2 vợ chồng. Khi ly hôn anh Th đề nghị được nuôi con chung là cháu Vũ Thiện Nh và không yêu cầu đóng phí nuôi con. Hiện anh Th đang làm chủ một xưởng đồ gỗ tại X, T, Bắc Ninh có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để đảm bảo nuôi dạy và giáo dục con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Không yêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử, công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Vũ Mạnh Th. Về con chung: Giao cháu Nh cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị V và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Bị đơn là anh Vũ Mạnh Th có hộ khẩu thường trú tại số 02, ngõ 399, đường N, khu 1, phường T, thành phố Bắc Ninh và hiện đang cư trú tại: Căn hộ 708, chung cư Hudland Trầu Cau, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V kết hôn với anh Vũ Mạnh Th năm 2016. Trước khi kết hôn chị V, anh Th đã tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy, chị V và anh Th đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị V và anh Th bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tính tình không hòa hợp. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 1/2019 đến nay. Nay chị V có đơn xin ly hôn anh Th đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị V và anh Vũ Mạnh Th đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm nay chị V và anh Th giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn do vậy cần công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Vũ Mạnh Th.

[3] Về con chung: Vợ chồng chị V, anh Th có 01 con chung là Vũ Thiện Nh sinh ngày 03/09/2016. Xét đề nghị của chị V, anh Th về việc nuôi con chung thấy rằng: Về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi con chung của chị V và anh Th đều như nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên. Tuy nhiên hiện cháu Nh còn nhỏ cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ nên cần giao cháu Nh cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con anh Th, chị V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản nên không đặt ra xem xét.

[5] Về công nợ: Vợ chồng không có công nợ nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 147, 235, 264, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Vũ Mạnh Th.
  2. Về con chung: Giao 01 con chung là Vũ Thiện Nh sinh ngày 03/09/2016 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị V, anh Th không yêu cầu tòa án giải quyết. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về công nợ: Không có.
  5. Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Nguyễn Thị V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2019/0000782 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). Chị V đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP. Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Ninh;
  • - UBND phường T, TP. Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2021/HNGĐ-ST ngày 03/03/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 24/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger