Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LA
________________

Bản án số: 24/2021/HNGD-PT
Ngày: 27-5-2021
“V/v tranh chấp ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Trần Văn Quán.
  2. Ông Nguyễn Thiện Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Yến Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh LA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LA tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh LA mở phiên toà để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2021/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc “tranh chấp ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 06/2020/HNGĐ-ST ngày 20-01-2021 của Toà án nhân dân huyện CG bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2021/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Ấp Thạnh Trung, xã PVĐ, huyện CG, tỉnh LA.

Bị đơn: Ông Võ Thành L, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số 469 ấp Thạnh Trung, xã PVĐ, huyện CG, tỉnh LA.

Người kháng cáo: Ông Võ Thành L.

(Bà T, ông L có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/7/2020, đơn xin rút đơn khởi kiện ngày 04/11/2020, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Huỳnh Thị T trình bày:

Bà và ông Võ Thành L sống với nhau từ năm 1996, có đăng ký kết hôn, tại Ủy ban nhân dân xã PVĐ, huyện CG, tỉnh LA. Thời gian đầu bà và ông L chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2005 trở đi, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do ông L không chăm lo cho gia đình, một mình bà T lo cho hai người con. Ông L hay thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện đánh bà. Bà đã chịu đựng và đã về nhà mẹ ruột sống. Nhiều lần, ông L và gia đình sang bên gia đình cha mẹ của bà thuyết phục; bà cũng đã cho ông L nhiều cơ hội nhưng ông L không quan tâm đến bà và các con. Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp tục kéo dài nên bà về nhà mẹ ruột sinh sống hơn 01 năm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bà yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: bà và ông L có 02 con chung tên Võ Minh Thành, sinh ngày 03/12/1997 và Võ Minh Sang, sinh ngày 24/02/2000. Các người con đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà và ông L có tài sản 300m2 đất trồng lúa, thửa đất 1453, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Thạnh Trung, xã PVĐ, huyện CG, do cha chồng là ông Võ Văn Hên chuyển quyền cho bà vào ngày 14/4/2008, trên đó có căn nhà cấp 4. Bà xác định đất của cá nhân bà mua, bà T trả tiền cho cha chồng. Nhà trên đất là tài sản chung nhưng bà không yêu cầu chia mà để lại cho các con. Trong thời gian sống chung bà và ông L có tạo lập được một thửa đất số 1268, tờ bản đồ số 5, đất lúa diện tích 1.655m2, ông Võ Thành L đứng tên. Bà đã làm đơn yêu cầu chia ½ giá trị đất và đã nộp tiền tạm ứng án phí vào ngày 28/7/2020 nhưng đến ngày 04/11/2020 bà đã làm đơn xin rút đơn khởi kiện, không yêu cầu ông L chia ½ giá trị thửa đất 1268.

Về nợ chung: Bà và ông L không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 29/6/2020, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Võ Thành L trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Thị T về thời gian chung sống và thời điểm kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T trình bày thì ông L không thống nhất. Giữa ông và bà T cũng có nhiều lần cãi nhau nhưng là những mâu thuẫn chung của bao nhiêu cặp vợ chồng khác. Ông không đồng ý với lời trình bày của bà T về việc ông không chăm lo cho gia đình. Ông đi làm thợ hồ, nuôi tôm để cùng bà T chăm lo cho con. Hiện bà T đang sống cùng với gia đình cha mẹ ruột ở Cần Giờ. Ông có qua thuyết phục nhưng vợ chồng không hàn gắn được. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn với bà T vì mâu thuẫn vợ chồng không có gì lớn. Hai người con của ông và bà T tuy đủ tuổi thành niên nhưng chưa lập gia đình, ông muốn hai cháu có cả cha và mẹ để cùng nhau lo cho hai con.

Về con chung: Theo bà T trình bày ông L đồng ý, các con đều đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tại biên bản hòa giải ngày 22/7/2020, ông có trình bày về phần tài sản như sau: thời gian chung sống, ông và bà T đứng tên 300m2 đất trồng lúa, thửa đất 1453, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Thạnh Trung, xã PVĐ, huyện CG, bà T được cha chồng là ông Võ Văn Hên tặng cho ngày 14/4/2008, trên đó có căn nhà cấp 4. Ông xác định đất và nhà là tài sản chung của vợ chồng nên ông sẽ yêu cầu chia ½ giá trị đất và nhà. Ông không làm đơn yêu cầu chia tài sản chung mặc dù được Tòa án giải thích. Ngày 09/12/2020, ông làm đơn gửi Tòa án là cha của ông L có cho 300m2 đất để cất nhà, nếu bà T xin ly hôn thì phần đất này trả lại cho cha của ông. Ông Võ Thành Hên không làm đơn khởi kiện, ông cũng không làm đơn yêu cầu Tòa án chia tài sản chung.

Về nợ chung: Ông và bà T không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Võ Thành L kháng cáo hợp lệ và thực hiện đúng thủ tục tố tụng nên được chấp nhận xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2002 ngày 16/8/2002 của Ủy ban nhân dân xã PVĐ, huyện CG, tỉnh LA thì bà Huỳnh Thị T và ông Võ Thành L là vợ chồng hợp pháp.

[2.2] Bà T cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng bà không hạnh phúc, ông L không chăm lo cho gia đình, một mình bà chăm lo cho hai đứa con chung; ông L cũng hay thường xuyên đi uống rượu về đánh bà T. Tại phiên tòa ông L cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng là mâu thuẫn thông thường như bao vợ chồng khác là không có cơ sở. Bởi lẽ, nếu mâu thuẫn nhỏ thì bà T không về bên ruột sinh sống và ông L không phải đến thuyết phục nhiều lần nhưng bà T không quay về chung sống với ông L như ông L thừa nhận tại phiên tòa.

[2.3] Mặt khác, ông L kháng cáo không đồng ý ly hôn với bà T như án sơ thẩm đã tuyên nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn lại hạnh phúc gia đình được bà T đồng ý. Ngược lại, bà T kiên quyết ly hôn với ông T, thể hiện ý chí không còn muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông L và hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 và quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên pháp luật không bắt buộc một người phải chung sống với người khác trái với ý muốn của họ.

[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án với nội dung “chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn...” là chưa chính xác, lẽ ra phải tuyên “chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn...” vì nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ theo quy định. Bên cạnh đó, tại phần quyết định của án sơ thẩm không quyết định về phần con chung, nợ chung, cấp dưỡng là thiếu sót, mặc dù hai bên đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 293, 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành L.

Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 06/2021/HNGĐ-ST ngày 20-01-2021 của Toà án nhân dân huyện CG, tỉnh LA.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39, khoản 4 Điều 147, 148; Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị T đối với bị đơn ông Võ Thành L.

[1] Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị T được ly hôn ông Võ Thành L.

[2] Về con chung: Không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử yêu cầu chia tài sản chung của bà Huỳnh Thị T.

[4] Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[5] Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí sơ thẩm: Buộc bà Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002253 ngày 15/05/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CG, tỉnh LA, chuyển sang án phí.

Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Thượng 3.750.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002542 ngày 28/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CG, tỉnh LA.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Võ Thành L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng mà ông L đã tạm nộp theo biên lai thu số 0008380 ngày 19/3/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện CG, tỉnh LA.

[8] Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh LA;
- TAND cấp huyện;
- Chi cục THADS cấp huyện;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa



Nguyễn Văn Cảnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2021/HNGD-PT ngày 27/05/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh LA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 24/2021/HNGD-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh LA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger