TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số:239/2024/HS-ST Ngày: 31-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Dũng
Bà Hoàng Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 237/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:250/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Ngọc T, sinh ngày: 08/02/1995; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: 0 T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Duy H và bà: Lê Thị H1; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình; Có vợ: Nguyễn Thị T1; có 01 con, Sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
+ Bị hại: Anh Đinh Xuân T2, sinh năm 1991
Địa chỉ: 2 T, phường N, Tp., tỉnh Thanh Hóa
Anh T2 vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h ngày 19/12/2023 Trịnh Ngọc T trong khi đi tìm xe môtô biển kiểm soát 29T1-27865 của mình bị thất lạc thì phát hiện thấy trước của quán B ở A P, phường Đ, thành phố T có 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 36F7-6588 của anh Đinh Xuân T2 sinh năm 1991 ở 2 T, phường N, thành phố T đang dựng trên vỉa hè, chìa khóa cắm ổ khóa, không ai trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp. Do đó, T đi lại nơi dựng xe và lên xe quay đầu xe nổ máy đi về số nhà I P, phường Đ, thành phố T cất giữ. Đến ngày 22/12/2023 T mang xe đến kho bia ở đường T, phường Đ nhờ Nguyễn Trọng T3 sinh năm 1990 trú tại phố T, phường Q, thành phố T trông giữ. Ngày 23/12/2023, khi Cơ quan Điều tra yêu cầu T3 đến làm việc, T3 đã khai nhận hành vi trộm cắp và giao nộp tài sản .
Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận:
“01 xe môtô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu; biển kiểm soát soát 36F7-6588, số máy HA05E0259161, số khung RLHHA0608WY259143, sản xuất năm 2001, đã qua sử dụng có giá 7.500.000 đồng”.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Xe môtô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 36F7-6588 là xe của anh Đinh Xuân T2. Cơ quan Điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại xe cho anh Đinh Xuân T2, anh T2 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác (Bút lục: 34A-35; 64-69).
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 167/CT-VKSTP ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trịnh Ngọc Tùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, và tuyên thời gian thử thách đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã trả lại tài sản đã trộm cắp và bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18h30 ngày 19/12/2023, Trịnh Ngọc T đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 01 môtô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 36F7-6588, màu nâu của anh Đinh Xuân T2. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt 7.500.000 đồng.
Do vậy hành vi của Trịnh Ngọc T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo tuy có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ sức khỏe nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà lại hám lợi, tham lam, dù nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, nên cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; ngoài lần phạm tội này không có vi phạm gì khác; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm chung. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền nơi cư trú cũng đủ để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 36F7-6588 và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[6] Trịnh Ngọc T nhờ anh Nguyễn Ngọc T4 trông giữ xe, anh T4 không biết đây là tài sản do Trịnh Ngọc T trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với anh Nguyễn Ngọc T4.
[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Ngọc T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Ngọc T cho UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Buộc cáo Trịnh Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 239/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Ngọc Tùng trộm cắp tài sản
