|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 239/2024/HS-ST.
Ngày: 30/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương;
Bà Dương Tú Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lương Tuấn Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 216/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/HSST-QĐ ngày 19/7/2024 đối với các bị cáo:
1/ Trần Việt L, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Số nhà A phố N, phường B, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: Số nhà D ngõ D, phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1954; Con bà: Trần Thị L1, sinh năm 1956; Vợ: Hoàng Linh A, sinh năm 1996 (Có 01 con sinh năm 2019); D chỉ bản số [...] lập ngày 29/3/2024 tại Công an quận Đ, Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Năm 2011 và 2012 bị xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Ngày 24/6/2015, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã xóa án tích).
Bị bắt, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 20/3/2024; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.
2/ Võ Duy B, sinh năm 1987; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Số nhà A ngõ E phố T, phường Ô, quận Đ, Hà Nội; Chỗ ở: P401, số A, ngách F ngõ G, phường Ô, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam - Ngày 22/4/2024, Đảng bộ Tập đoàn Đ1 đã đình chỉ sinh hoạt Đảng; Con ông: Võ Sĩ T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Vợ: Hoàng Thu H, sinh năm 1988; Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2022; D chỉ bản số [...] lập ngày 29/3/2024 tại Công an quận Đ, Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 20/3/2024; Hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 06/6/2024. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, tại khu vực trước số nhà D phố T, phường P, quận H, Hà Nội. Tổ công tác của Công an phường P, quận Đ phối hợp với tổ công tác của Công an phường P, quận H đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Võ Duy B (sinh năm 1987; ĐKNK: số nhà A ngõ E phố T, phường Ô, quận Đ, Hà Nội) và người giao hàng của hãng B1 là Vũ Đức T1 (sinh năm 2001; địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình). Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi đồ mà Võ Duy B vừa nhận từ T1 đang cầm ở tay phải có: 01 (một) túi giấy màu trắng bên trong có 01 (một) túi nilong màu bạc chứa hộp nhựa màu trắng loại hai đáy. Mở nắp đáy hộp nhựa bên trong có 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước khoảng 3x5 cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tiếp tục kiểm tra phát hiện trong túi áo ngực phía trước bên trái của B có 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước khoảng 4x8cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tại chỗ, B khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy B mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong tang vật rồi đưa B và T1 về cơ quan công an làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Duy B khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên trưa ngày 20/03/2024, B có liên hệ với 01 người có tài khoản mạng xã hội Telegram là "LIL PAPI" để mua 05 gam ma túy Ketamine thì người này nói với B là có loại ma túy mới là C và B đã đồng ý mua 05 gam với giá là 12.500.000 đồng. Sau đó, B đã chuyển khoản số tiền trên từ tài khoản số 2612467959 mang tên Võ Duy B mở tại Ngân hàng B2 vào tài khoản ngân hàng số 0706782345 mang tên NGUYEN HOANG LONG mở tại Ngân hàng M. Bách yêu cầu người này chia nhỏ số ma túy trên ra thành 5 túi để khi nào cần sẽ gọi và gửi địa chỉ thì người này sẽ ship đến cho B. Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 20/3/2024, B yêu cầu “LIL PAPI” vận chuyển đến cho B 01 túi ma túy đến địa chỉ số nhà A phố V, phường T, quận C, Hà Nội. Sau đó, có 01 người đàn ông đến số nhà A phố V ma túy cho B. Bách mang ma túy vào nhà vệ sinh để cho vào điếu thuốc lá rồi hút nhưng do không cẩn thận nên làm đổ số ma túy ra ngoài, số ma túy còn lại thì B cất giấu vào túi áo ngực bên trái. Do vẫn còn nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, B tiếp tục liên hệ với “LIL PAPI” và yêu cầu người này vận chuyển cho 01 túi ma túy về số nhà D phố T. Khoảng 20 phút sau, có Vũ Đức T1 đến giao cho B một túi đồ. Khi B vừa nhận túi đồ từ T thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đức T1 khai nhận: T1 là nhân viên giao hàng công nghệ của hãng B3, khoảng 15 giờ 25 phút ngày 20/3/2024, T1 nhận được đơn giao hàng từ số nhà D ngõ D phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội đến số nhà D phố T. Sau đó, T1 đến số nhà D ngõ D phố Phạm Ngọc T2 nhận 01 túi đồ từ chị Đỗ Thị Lan A1 (sinh năm 1995; trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang) rồi đi giao cho Võ Duy B. T1 không biết trong túi đồ có cất giấu ma túy.
Căn cứ lời khai của Vũ Đức T1, Cơ quan công an đã tiến hành kiểm tra tại số nhà D ngõ D phố P. Lúc này, Trần Việt L (sinh năm 1988; trú tại số nhà A phố N, phường B, quận H, Hà Nội) đi từ tầng 07 nhà số D ngõ D phố P xuống tầng 01 thấy Cơ quan Công an đang làm việc với chị Đỗ Thị Lan A1 nên đã đầu thú và khai nhận mình là người bán ma túy cho Võ Duy B. Ngoài ra, L đã tự nguyện giao nộp 01 hộp nhựa màu trắng có đáy hình tròn bên trong chứa ma túy loại Cocaine; 01 cân điện tử màu xám bạc; 25 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 3x5cm chưa qua sử dụng. Cơ quan Công an đã niêm phong tang vật rồi đưa L về trụ sở để làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Việt L khai nhận: ngày 10/3/2024, L có liên hệ với một đối tượng tên “T3” sử dụng số điện thoại 0842.999.xxx để mua 25.000.000 đồng ma túy Cocaine về bán kiếm lời. Lúc này, thì “T3” đề nghị muốn L làm đại lý bán ma túy cho mình thì L đồng ý và chưa cần trả số tiền 25.000.000 đồng cho “T3”. Sau đó vài ngày, thì có một người đàn ông đến giao ma túy cho L tại trước nhà số D ngõ D phố P. L nhận số ma túy rồi cất giấu tại phòng trọ của mình tại tầng 07 nhà số D ngõ D phố P với mục đích khi nào “T3” liên lạc thì sẽ đóng gói ma túy rồi gọi xe ôm công nghệ giao ma túy cho khách của “T3”. Ngày 20/3/2024, “T3” đã liên lạc và yêu cầu L bán ma túy cho 02 khách của “Trang”, mỗi đơn 05 gam ma túy C, 01 đơn gửi cho khách hàng tên H1 sử dụng số điện thoại 0949.868.xxx tại số nhà B ngõ F phố Á, phường B, quận L, Hà Nội và 01 đơn gửi cho Võ Duy B tại số nhà P T. Sau đó, L cân ma túy rồi cất giấu trong đáy hộp nhựa màu trắng, đặt xe ôm công nghệ và mang xuống tầng 01 nhà số D ngõ D phố P nhờ chị Đỗ Thị Lan A1 giao cho xe ôm công nghệ. Xe ôm công nghệ giao túi đồ cho Võ Duy B là Vũ Đức T1, còn xe ôm công nghệ giao túi đồ đến nhà số B ngõ F phố Á là Đoàn Văn H2 (sinh năm 1990; trú tại xóm B, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định). Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, L đi từ tầng 07 nhà số D ngõ D phố P xuống tầng 01 thì thấy Cơ quan Công an đang làm việc với chị Đỗ Thị Lan A1 nên đã đầu thú, khai nhận hành vi mua bán ma túy của mình và tự nguyện giao nộp số tang vật như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 2267/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- “- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước (3x5)cm là ma túy loại Cocaine, khối lượng: 4,960 gam.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước (4x8)cm là ma túy loại Cocaine, khối lượng: 0,336 gam.”
Tại bản Kết luận giám định số 2269/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- “- Tinh thể màu trắng bên trong 01 hộp nhựa là ma túy loại Cocaine, khối lượng: 22,271 gam.
- - 01 cân điện tử màu xám bạc có dính ma túy loại Cocaine."
Vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, ngoài số ma túy đã bị thu giữ nêu trên, Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 điện thoại di động Samsung S24 Ultra màu ghi của Võ Duy B và 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max của Trần Việt L.
Đối với tài khoản ngân hàng số 0706782345 mở tại ngân hàng M, qua điều tra xác định chủ tài khoản là anh Nguyễn Hoàng L2 (sinh năm 1989; trú tại: CH A Chung cư S, phường D, quận C, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh L2 khai hiện đang kinh doanh nước hoa tại thành phố Hồ Chí Minh và sử dụng tài khoản ngân hàng số 0706782345 mở tại ngân hàng M để giao dịch. Ngày 20/3/2024, có khách hàng mua nước hoa của anh với giá 12.500.000 đồng và chuyển khoản thanh toán cho anh L2. Anh L2 không nhớ khách mua nước hoa là ai và cũng không biết Võ Duy B, Trần Việt L và người tên “T3” sử dụng số điện thoại 0842.999.xxx. Hiện không có căn cứ xác định Nguyễn Hoàng L2 liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Việt L, Võ Duy B nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.
Xác minh tại Công an phường B xác định không có ai tên H1 tại địa chỉ số nhà B ngõ F phố Á. Đối với số điện thoại 0949.868.xxx, qua điều tra xác định chủ thuê bao là anh Đỗ Xuân H3 (sinh năm 1985; trú tại tổ dân phố Đ, phường C, quận B, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh H3 khai không sử dụng số điện thoại trên và không quen biết Nguyễn Hoàng L2, Trần Việt L và người tên “T3” sử dụng số điện thoại 0842.999.xxx. Hiện không có căn cứ xác định anh H3 liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Việt L nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.
Đối với số điện thoại 0842.999.xxx, qua điều tra xác định thuê bao không chính chủ, đã bị thu hồi từ ngày 01/4/2024.
Đối với Đỗ Thị Lan A1, Vũ Đức T1, Đoàn Văn H2, qua điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Việt L và Võ Duy B nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.
Đối với các đối tượng “LIL PAPI”, “T3”, người giao ma túy cho Trần Việt L tại số nhà D ngõ D phố P và người giao ma túy cho Võ Duy B tại số nhà A phố V, do L và B khai không biết họ tên, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Cáo trạng số 217/CT-VKS ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã quyết định truy tố bị cáo Trần Việt L tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Võ Duy B tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b,i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Việt L từ 09 đến 10 năm tù.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s,v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Duy B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong dán kín có chữ ký giáp lai của Võ Duy B, người chứng kiến Vũ Đức T1, giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Công an phường D và hình dấu Công an phường P; 01 hộp niêm phong dán kín có chữ ký giáp lai của Trần Việt L, người chứng kiến Lý Văn L3, giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Công an phường D và hình dấu Công an phường P; 01 túi giấy màu trắng; 01 hộp nhựa màu trắng; 25 vỏ túi nilon; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, tại khu vực trước số nhà D phố T, phường P, quận H, Hà Nội. Tổ công tác của Công an phường P, quận Đ phối hợp với tổ công tác của Công an phường P, quận H đã phát hiện, bắt quả tang Võ Duy B có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy (khối lượng ma túy là 5,296 gam Cocaine), với mục đích để sử dụng.
Qua điều tra xác định, người bán ma túy cho Võ Duy B là Trần Việt L; thu giữ tại nơi ở của L khối lượng ma túy là 22,271 gam C (L khai cất giấu với mục đích để bán kiếm lời). Ngoài ra, Trần Việt L đã tự thú ngày 20/3/2024 còn bán ma túy cho đối tượng tên H1 tại số nhà B ngõ F phố Á, phường B, quận L, Hà Nội. Như vậy, tổng khối lượng ma túy L đã cất giấu với mục đích để bán kiếm lời là 27,271 gam Cocaine.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Việt L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.
Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xét xử nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.
Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ điều kiện cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo L: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú. Bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.
Xét bị cáo B có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự.
Đối với vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong dán kín có chữ ký giáp lai của Võ Duy B, người chứng kiến Vũ Đức T1, giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Công an phường D và hình dấu Công an phường P; 01 hộp niêm phong dán kín có chữ ký giáp lai của Trần Việt L, người chứng kiến Lý Văn L3, giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Công an phường D và hình dấu Công an phường P; 01 túi giấy màu trắng; 01 hộp nhựa màu trắng; 25 vỏ túi nilon; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone.
Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Trần Việt L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Võ Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b,i khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Việt L 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2024.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s,v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Duy B 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến ngày 06/6/2024.
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong dán kín có chữ ký giáp lai của Võ Duy B, người chứng kiến Vũ Đức T1, giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Công an phường D và hình dấu Công an phường P; 01 hộp niêm phong dán kín có chữ ký giáp lai của Trần Việt L, người chứng kiến Lý Văn L3, giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Công an phường D và hình dấu Công an phường P; 01 túi giấy màu trắng; 01 hộp nhựa màu trắng; 25 vỏ túi nilon; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục THA dân sự quận Đ theo biên bản giao, nhận vật chứng số 263 ngày 16/7/2024).
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị An. |
Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 239/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
