|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 239/2024/HS-ST Ngày: 30-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lượng
Ông Võ Văn Lợi
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký Tòa án.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 225/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Lê Thành T, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi thường trú: H B, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 20/9/2023 Công an P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh xóa đăng ký thường trú do nhà bán không còn chỗ ở hợp pháp); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn H và bà Lê Thị Thanh H1; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 27/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 405/QĐ-TA ngày 27/5/2020, thời hạn 18 tháng kể từ ngày 24/3/2020. Chấp hành xong quyết định ngày 26/8/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2023 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Thị M, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; nơi thường trú: 220 Lô H, Chung cư H, khu phố B, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có chồng con;
Tiền án:
Ngày 15/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2019 (bản án số 154/2019/HSST ngày 15/8/2019);
Ngày 28/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù tại bản án số 154/2019/HSST ngày 15/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2019. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/6/2023, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 22/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 294/QĐ-TA ngày 22/5/2019, thời hạn 21 tháng kể từ ngày 05/3/2019.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2023 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
* Người tham gia tố tụng khác:
-
- Bị hại: Bà Hàn Ngọc Hà M1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 M, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị Ngọc M2, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 M, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 36 phút ngày 05/09/2023, chị Hàn Ngọc Hà M1 (sinh năm 1990) điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision 110cc màu xanh đen, biển số 59M2-729.42 đến địa chỉ số B, đường số B, phường T, thành phố T gặp Nguyễn Thị M là bạn quen biết (Chấp hành án chung ở Trại giam T2 năm 2019) ngồi nói chuyện. Lúc này, Nguyễn Lê Thành T nhắn tin với M rủ đi lấy trộm tài sản, M nhắn đang ngồi kế M1 có xe mô tô, T nhắn cho M nói giả vờ kêu M1 chở đi rút tiền để chiếm đoạt xe trên thì M đồng ý. T đón xe G chạy đến chỗ M và M1. Sau đó, T nhờ M1 chở đi tìm chỗ để rút tiền, thì M1 đồng ý, M1 điều khiển xe mô tô biển số 59M2-729.42 chở M ngồi giữa, T ngồi sau cùng đi từ đường số B, phường T ra hướng đường T về hướng Cầu vượt G. Khi đang chạy trên đường T, T kêu M1 chạy vào đường số G được khoảng 200 mét đến trước số nhà A, đường G, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bất ngờ T chồm người lên dùng tay phải đánh vào đầu của M1, làm M1 choáng váng chạy xe đụng vào trụ điện làm cả ba ngã xuống đường, M1 bị bất tỉnh, T ngồi dậy dựng xe lên quay đầu xe lại kêu M lên xe để T chở chạy ra đường T về hướng đường Q thì bị anh Dương Tuấn A, Phạm Gia T1, Lê Ngọc H2 là cán bộ thuộc Phòng C đang tuần tra phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên đã rượt đuổi đến trước nhà số D, Quốc lộ A, phường H, thành phố T thì đuổi kịp ép xe vào lề đường làm T ngã xe, T bỏ chạy bộ thoát, còn M bị bắt giữ cùng xe mô tô biển số 59M2-729.42 và bàn giao cho Công an phường T lập hồ sơ xử lý.
Bản kết luận định giá tài sản số 352-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô hiệu Vision màu xanh đen biển số 59M2 - 729.42, số máy RLHJK0341PZ106184, số khung JK03E5506541, trị giá 35.000.000 đồng.
Ngày 06/9/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị M.
Đối với Nguyễn Lê Thành T ngày 22/9/2023 bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T bắt bị can để tạm giam.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Lê Thành T, Nguyễn Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- + (01) Điện thoại di động hiệu Itel màu đen số thuê bao 0774674482 của M.
- + (01) Điện thoại di động hiệu Sutubra màu trắng của M.
- + (01) Điện thoại di động hiệu Oppo A71 màu vàng số thuê bao 0814363859 của M.
- + (01) xe mô tô hiệu Honda Vision màu xanh đen biển số 59M2 - 729.42, số máy: RLHJK0341PZ106184; số khung: JK03E5506541 do bà Lương Thị Ngọc M2 đứng tên sở hữu, chị M1 mượn xe trên sử dụng. Ngày 31/10/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lương Thị Ngọc M2.
- + Clip Camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án (lưu theo hồ sơ).
Về trách nhiệm dân sự:
- - Bà Hàn Ngọc Hà M1 bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu bồi thường.
- - Bà Lương Thị Ngọc M2 nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 233/CT-VKSTPTĐ ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Lê Thành T, Nguyễn Thị M về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Thành T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”;
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 08 năm đến 09 năm tù tù về tội “Cướp tài sản”;
- - Về dân sự: Ghi nhận bà Hàn Ngọc Hà M1 và bà Lương Thị Ngọc M2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại;
- - Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Lê Thành T, Nguyễn Thị M khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo nói lời sau cùng: rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo sớm quay về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 36 phút ngày 05/09/2023, Nguyễn Lê Thành T, Nguyễn Thị M rủ nhau chiểm đoạt xe mô tô hiệu Vision màu xanh đen biển số 59M2 - 729.42 của bà Hàn Ngọc Hà M1 đang làm nghề chạy G1, trong lúc Hàn Ngọc Hà M1 đang điều khiển xe chở Nguyễn Lê Thành T và Nguyễn Thị M đến trước nhà số A, đường G, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì T dùng tay phải đánh vào đầu của M1, làm M1 choáng váng chạy xe đụng vào trụ điện làm cả ba ngã xuống đường, M1 bị bất tỉnh, sau đó T và M thực hiện hành vi cướp xe trên rồi tẩu thoát thì bị bắt giữ.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi dùng vũ lực tấn công bị hại để chiếm đoạt tài sản trên của bị hại, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tài sản các bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 35.000.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Lê Thành T, Nguyễn Thị M phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, không mang tính tổ chức, cả 02 bị cáo cùng trực tiếp thực hiện tội phạm. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe và quyền sở hữu, quản lý hợp pháp về tài sản của người khác và còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị M: Ngày 03/3/2019 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 154/2019/HSST ngày 15/8/2019. Ngày 31/12/2018 bị cáo có hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 223/2019/HSST ngày 28/11/2019, tổng hợp với hình phạt tại bản án số 154/2019/HSST ngày 15/8/2019, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 03/6/2023. Ngày 05/9/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi “Cướp tài sản” trong vụ án này. Do đó, hành vi của bị cáo trong vụ án này được xác định là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[6] Hành vi T dùng tay phải đánh vào đầu của M1, làm M1 choáng váng chạy xe đụng vào trụ điện làm cả ba ngã xuống đường, do bị thương tích nhẹ, chị Hàn Ngọc Hà M1 làm đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý đối với hành vi này của T.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ:
- + (01) Điện thoại di động hiệu Itel màu đen số thuê bao 0774674482 của M là điện thoại M dùng để liên lạc với T để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + (01) Điện thoại di động hiệu Sutubra màu trắng của M; (01) Điện thoại di động hiệu Oppo A71 màu vàng số thuê bao 0814363859 của M không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo M.
- + (01) xe mô tô hiệu Vision màu xanh đen biển số 59M2 - 729.42, số máy: RLHJK0341PZ106184; số khung: JK03E5506541 do bà Lương Thị Ngọc M2 đứng tên sở hữu, M1 mượn xe trên sử dụng. ngày 31/10/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lương Thị Ngọc M2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- + Clip Camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án (lưu theo hồ sơ) nên tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bà Hàn Ngọc Hà M1 và bà Lương Thị Ngọc M2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với các bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án và dân sự. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận đề nghị của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Thành T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2023.
- * Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2023.
- * Căn cứ Điều 106 và Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: (01) Điện thoại di động hiệu Itel màu đen số thuê bao 0774674482.
- - Trả cho bị cáo Nguyễn Thị M: 01 Điện thoại di động hiệu Sutubra màu trắng; 01 Điện thoại di động hiệu Oppo A71 màu vàng số thuê bao 0814363859.
- - Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án: Clip Camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án.
- (Phiếu nhập kho số NK24/293C ngày 29/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
- * Ghi nhận việc bà Hàn Ngọc Hà M1 và bà Lương Thị Ngọc M2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- * Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo Nguyễn Lê Thành T, Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- * Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Sương |
8
Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản
- Số bản án: 239/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
