|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 239/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia công nợ chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Ngô Văn Bê
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia công nợ chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 140/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng của chị H ở Việt Nam: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện chị H đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- - Bà Phí Thị B, sinh năm 1960 ( có mặt)
- - Ông Lê Quang V, sinh năm 1957 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị H1, sinh năm 1965 ( có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 26/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng về mọi mặt của cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng nên anh và chị H không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay không còn quan tâm, không còn liên lạc với nhau nữa. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 26/8/2015 và cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 11/01/2018. Hiện con chung đang sống cùng với anh tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nay vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P và cháu H2.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về công nợ chung của vợ chồng: vợ chồng anh không yêu cầu giải quyết.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Phí Thị B và ông Lê Quang V yêu cầu anh và chị H cùng có trách nhiệm trả số tiền vay 115.000.000đ và tiền lãi suất anh có ý kiến như sau:
Anh và chị H có vay tiền của bà Phí Thị B và ông Lê Quang V số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 26/9/2015, chia làm 02 lần với 02 giấy biên nhận vay tiền, cụ thể:
Lần thứ nhất theo giấy biên nhận ngày 26/9/2015 anh và chị H vay 80.000.000₫ (T mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận là theo lãi suất ngân hàng nhưng anh không nhớ là lãi suất bao nhiêu, thời hạn vay 01 năm, đến ngày 20/9/2016 vợ chồng anh trả cho bà B 20.000.000đ, còn lại tiền gốc là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) đến nay chưa thanh toán. Về tiền lãi, do anh và chị H đi làm ăn bên Trung Quốc nên hàng tháng có gửi tiền nhờ bà H1 (mẹ chị H) trả cho bà B tiền lãi khoảng 700.000 đồng đến 800.000 đồng trên tháng cho khoản tiền này và trả lãi đến giữa năm 2020 nhưng anh không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh.
Lần thứ 2 cũng trong ngày 26/9/2015 theo giấy biên nhận vay tiền ngày 26/9/2015 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 1%/ tháng. Khoản vay này anh và chị H đã trả đầy đủ cho bà B và ông V thông qua việc vợ chồng anh gửi tiền về cho bà H1 (mẹ chị H) để trả cho bà B nhưng anh không có tài liệu chứng minh, đến nay anh và chị H không còn nợ bà B và ông V khoản tiền này nữa.
Anh khẳng định đến nay anh và chị H còn nợ bà B và ông V số tiền gốc là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi tính từ tháng 7 năm 2020 đến nay. Bà B và ông V yêu cầu, anh đồng ý cùng với chị H mỗi người trả cho bà B, ông V 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) tiền gốc. Đối với tiền lãi phát sinh, do anh và chị H làm ăn thua lỗ không có khả năng thanh toán nên anh đề nghị bà B, ông V không tính lãi đối với số tiền anh và chị H đã vay.
Đối với khoản tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) theo văn bản ngày 16/11/2015 anh và chị H không được vay của bà B và ông V nên anh không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của bà B và ông V.
Chị Nguyễn Thị H là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Phí Thị B và ông Lê Quang V trình bày:
Ông, bà có cho chị H và anh Đ vay tiền 03 lần cụ thể như sau:
Ngày 26/9/2015 ông, bà cho anh Đ, chị H vay tiền làm 02 lần, tổng số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ông, bà cho anh Đ, chị H vay số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 1%/ tháng, thỏa thuận khi nào ông, bà cần tiền thì báo trước cho anh Đ, chị H để thu xếp trả tiền cho ông, bà. Đối với khoản vay này ông, bà đã đôn đốc anh Đ, chị H trả tiền từ tháng 12 năm 2015 nhưng anh chị khất ông, bà hết lần này đến lần khác mà không trả tiền cho ông, bà.
Lần thứ hai: Cũng trong ngày 26/9/2015 ông, bà cho anh Đ, chị H vay số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận theo lãi suất của Ngân hàng thời điểm đó là 1%/ tháng. Thời hạn thanh toán khi cần thì ông, bà sẽ báo trước cho anh Đ 1 năm. Đến tháng 12 năm 2015 ông, bà đã yêu cầu anh Đ, chị H trả tiền nhưng đến ngày 20/9/2016 anh, chị mới trả cho ông, bà được 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) tiền gốc và trả tiền lãi đến tháng 12 năm 2018. Từ ngày 01/01/2019 đến nay anh Đ, chị H chưa trả khoản tiền lãi nào. Việc trả tiền lãi đều do bà H1 (mẹ chị H) đưa cho ông, bà.
Ngày 16/11/2015, ông, bà tiếp tục cho anh Đ, chị H vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) mục đích đóng bảo hiểm cho mẹ (theo lời anh Đ nói), khoản vay này là khoản vay không có lãi và anh Đ có nói là sẽ trả sau 3 ngày nhưng anh Đ không thanh toán.
Tổng số tiền ông, bà cho anh Đ, chị H vay là 115.000.000đ (Một trăm mười lăm triệu đồng), anh Đ, chị H đã trả cho ông, bà 20.000.000 đồng, còn nợ lại 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng). Từ cuối năm 2015 đến nay ông, bà liên tục đôn đốc, thúc giục anh Đ, chị H trả tiền nhưng anh chị không trả hết số tiền còn lại cho ông, bà. Hằng năm năm nào ông, bà cũng gọi điện, đến nhà đôn đốc anh Đ, chị H trả tiền.
Thời điểm ông, bà cho anh Đ, chị H vay tiền thì vợ chồng anh chị vẫn chung sống hòa thuận và làm ăn kinh tế chung nhưng do làm ăn thua lỗ nên anh, chị không có tiền để trả cho ông, bà.
Bà B, ông V yêu cầu anh Đ, chị H phải trả cho ông, bà số tiền gốc là 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng) theo giấy vay tiền ngày 26/9/2015 và ngày 16/11/2015. Đối với yêu cầu tính lãi suất: Ông, bà yêu cầu tính lãi của khoản vay 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tính từ ngày 26/9/2015 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tiền lãi của số tiền 60.000.000 đồng theo giấy vay ngày 26/9/2015 tính từ ngày 01/01/2019 cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 0,83%/ tháng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 trình bày:
Bà là mẹ chị H, anh Đ và chị H kết hôn năm 2014 có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Đ, chị H chung sống với nhau hòa thuận đến năm 2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do làm ăn thua lỗ, anh Đ và chị H sang Trung Quốc làm ăn từ đó phát sinh cãi vã thường xuyên nên anh Đ và chị H sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Anh Đ và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 26/8/2015 và Nguyễn Minh H2, sinh ngày 11/01/2018 hiện đang sống cùng với anh Đ.
Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho chị H biết nhưng chị H không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và từ chối cung cấp địa chỉ hiện tại của chị H tại nước ngoài do chị H đi lao động tại Myanma từ cuối năm 2022 qua đường tàu biển nên chị H không cung cấp địa chỉ được. Chị H có trao đổi với bà việc anh Đ làm đơn xin ly hôn chị H đồng ý ly hôn, chị H đồng ý giao con chung là Nguyễn Minh P và Nguyễn Minh H2 cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với khoản tiền nợ bà B và ông V thì chị H đề nghị anh Đ phải có trách nhiệm trả khoản nợ này vì trong thời gian vợ chồng chung sống và làm ăn thua lỗ chị H đã tốn nhiều tiền nuôi con.
Đối với số tiền vay của bà B, ông V. Năm 2015 anh Đ và chị H làm ăn kinh tế nên anh Đ và chị H nhờ bà hỏi bà B để vay tiền, sau đó bà đưa anh Đ lên nhà bà B vay tiền, vì khi đó chị H sinh con nên không đi vay tiền cùng anh Đ được nhưng trước đi vay tiền thì chị H và anh Đ đã thống nhất với nhau ở nhà, anh Đ và chị H vay tiền bà B tổng 03 lần với số tiền 115.000.000đ (Một trăm mười lăm triệu đồng) như bà B, ông V trình bày là đúng. Khi anh Đ ký vay tiền bà có ký tên trong giấy vay tiền với tư cách là người làm chứng. Khi anh Đ, chị H đi làm ăn bên Trung Quốc có gửi tiền để nhờ bà trả cho bà B 20.000.000 đồng tiền gốc của khoản vay 80.000.000 đồng vào ngày 20/9/2015 và trả tiền lãi của khoản vay 80.000.000 đồng cho đến tháng 12 năm 2018. Đối với khoản vay 20.000.000đ ngày 26/9/2015 thì anh Đ và chị H chưa trả được đồng nào. Anh Đ, chị H gửi tiền về thì bà cầm mang đi trả tiền cho bà B, ông V đúng số tiền mà anh Đ, chị H gửi nhưng bà chỉ đưa trực tiếp cho bà B và ông V và bà không có sổ sách ghi chép gì. Việc anh Đ trình bày gửi cho bà tiền trả tiền gốc của khoản vay 20.000.000 đồng của khoản vay ngày 26/9/2015 là không đúng, số tiền 20.000.000 đồng này được trả vào khoản vay 80.000.000đ. Anh Đ chỉ gửi tiền về cho bà đến tháng 12 năm 2018 để trả tiền lãi cho bà B.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 29/3/2024, cháu Nguyễn Minh P trình bày: cháu có nguyện vọng được ở cùng bố nếu bố, mẹ cháu ly hôn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H vì chị H đi lao động nước ngoài từ năm 2019, vợ chồng sống ly thân từ đấy và không liên lạc, mãi tháng 8 năm 2023 chị H mới nhắn tin cho anh. Anh xác định tình cảm không còn nên yêu cầu cho anh được ly hôn chị H.
Về nuôi con chung: anh đề nghị giao hai con chung là cháu P và cháu H2 cho anh nuôi dưỡng anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh đang làm nghề lái xe thu nhập khoảng 12 triệu đồng/tháng nên anh có đủ điều kiện nuôi con.
Về công nợ: Anh đồng ý với yêu cầu trả nợ của bà B và ông V tại phiên tòa vì anh và bà B, ông V thống nhất anh là người trả số tiền 130.000.000 đồng gồm cả gốc và tiền lãi cho bà B và ông V vì chị H ở nước ngoài không trực tiếp trả nợ được.
Bà B và ông V trình bày: Ông, bà đồng ý với đề nghị của anh Đ tại phiên tòa anh Đ là người trả nợ ông, bà tổng số tiền 130.000.000 đồng bao gồm tiền gốc 95.000.000 đồng và còn lại là số tiền lãi, không yêu cầu chị H cùng chịu trách nhiệm trả nợ cho ông, bà.
Bà H1 trình bầy: bà xác định chị H con gái bà đi lao động nước ngoài và không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, chị H vẫn thường xuyên liên lạc với bà, bà cũng đã thông báo cho chị H về việc anh Đ đề nghị ly hôn chị H và yêu cầu được nuôi hai con chung, công nợ của bà B, ông V. Chị H nói khi nào về thì đề nghị được nuôi con. Về số tiền nợ của bà B, ông V thì bà đồng ý với đề nghị của bà B và ông V, ý kiến của anh Đ, anh Đ là người trả nợ số tiền 130.000.000 đồng như yêu cầu của bà B, ông V đã thống nhất tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phí Thị B và ông Lê Quang V, bà Lê Thị H1 có mặt tại phiên tòa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chị Nguyễn Thị H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị H nhưng chị H không có mặt tại phiên tòa là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 37, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Đ ly hôn chị Nguyễn Thị H.
Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 26/8/2015 và Nguyễn Minh H2, sinh ngày 11/01/2018 cho anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về công nợ chung: Buộc anh Nguyễn Văn Đ phải trả bà Phí Thị B, ông Lê Quang V số tiền 130.000.000 đồng.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 6.500.000 đồng án án phí giải quyết công nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra phiên toà, ý kiến tranh luận của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Nguyễn Văn Đ khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị H và yêu cầu giải quyết nuôi con chung; Bà Phí Thị B và ông Lê Quang V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu anh Đ, chị H phải trả 95.000.000 đồng tiền gốc và lãi suất phát sinh. Chị H hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể của chị H. Theo Công văn số: 7514/QLXNC-P3 ngày 15/4/2024 và Công văn số: 9473/QLXNC-P3 ngày 07/5/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp không có thông tin xuất nhập cảnh của chị H. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả xác minh tại Công an xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và trình bày của anh Đ là nguyên đơn, bà Lê Thị H1 là mẹ của chị H. Hội đồng xét xử xác định hiện nay chị H đang lao động tại nước ngoài và không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, chị H vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia công nợ chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có bị đơn chị Nguyễn Thị H hiện đang lao động tại nước ngoài, địa chỉ cuối cùng của chị H ở Việt Nam tại: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2].Về việc vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị H: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, bà H1 (là mẹ chị H), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của chị H trước khi đi nước ngoài ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị H thông qua người thân của chị H là bà Lê Thị H1 (mẹ đẻ chị H) và đề nghị bà H1 thông báo cho chị H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia công nợ chung” giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Đ và bị đơn là chị Nguyễn Thị H. Bà H1 cho biết chị H xuất cảnh ra nước ngoài qua đường tàu biển, chị H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị H không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị H tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho chị H và xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị H theo quy định tại Điều 10 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng anh Đ, chị H phát sinh mâu thuẫn, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ đối với chị Nguyễn Thị H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Đ và chị H chung sống với nhau không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm, không còn liên lạc với nhau nữa. Ngoài ra, mẹ đẻ chị H là bà H1 cũng xác định vợ chồng anh Đ, chị H có mâu thuẫn nên vợ chồng anh Đ, chị H đã sống ly thân. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh Đ, chị H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ, xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[4]. Về nuôi con chung: Anh Đ và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 26/8/2015 và cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 11/01/2018. Sau khi ly hôn anh Đ có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu P và cháu H2. Cháu P trên 7 tuổi có nguyện vọng được ở cùng bố.
Xét yêu cầu của anh Đ, Hội đồng xét xử thấy: Chị H hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Cháu P và cháu H2 hiện nay đang ở cùng anh Đ được anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần, cháu P tên 7 tuổi có nguyện vọng được sống cùng với anh Đ. Để đảm bảo cho con chung phát triển bình thường, tránh xáo trộn về cuộc sống, môi trường học tập của con chung. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu của anh Đ, giao cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 26/8/2015 và Nguyễn Minh H2, sinh ngày 11/01/2018 cho anh Nguyễn Văn Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật sau khi ly hôn là phù hợp quy định pháp luật và đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, nguyện vọng của cháu P cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[5].Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về công nợ chung: Đối với yêu cầu độc lập của bà Phí Thị B và ông Lê Quang V yêu cầu anh Đ và chị H phải trả số tiền gốc 95.000.000 đồng và tiền lãi. Hội đồng xét xử thấy:
Tại phiên tòa anh Đ, bà B, ông V đều thống nhất thỏa thuận anh Nguyễn Văn Đ là người trả nợ bà B, ông V, không buộc chị H phải trả nợ và thống nhất số tiền phải trả cả tiền gốc và tiền lãi tổng là 130.000.000 đồng. Xét thấy việc thỏa thuận này là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc anh Nguyễn Văn Đ phải trả bà Phí Thị B và ông Lê Quang V số tiền 130.000.000 đồng.
[8]. Về lãi suất chậm thi hành án: Do các đương sự không thống nhất, do vậy Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.
[9].Về án phí:
Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Cụ thể án phí phải chịu là: (130.000.000 đồng x 5% ) = 6.500.000 đồng.
[10]. Về quyền kháng cáo:
Anh Nguyễn Văn Đ, bà Phí Thị B, ông Lê Quang V, bà Lê Thị H1 đang ở trong nước có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Nguyễn Thị H đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 37, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1, 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ.
- Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Đ ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 26/8/2015 và Nguyễn Minh H2, sinh ngày 11/01/2018 cho anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn. Chị Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
-
Về công nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phí Thị B và ông Lê Quang V.
Buộc anh Nguyễn Văn Đ phải trả cho bà Phí Thị B và ông Lê Quang V 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí:
Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001123 ngày 25/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nguyễn Văn Đ, bà Phí Thị B, ông Lê Quang V, bà Lê Thị H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên Bản án sơ thẩm (29/8/2024).
Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử TAND; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTР. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 239/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia công nợ chung
- Số bản án: 239/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia công nợ chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa anh Đ và chị H
