|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số:239/2024/HS-ST
Ngày 25 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 227/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2024/QĐXX-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo: Vũ Thùy L, sinh năm 1990; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà A, ngõ B, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: P, tòa nhà 18 tầng, chung cư Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Vũ Tùng D, sinh năm 1963 và bà Vũ Thị L1, sinh năm 1966 (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Chồng là Bùi Đình T, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
* Bị hại: Chị Phạm Thu H, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
Địa chỉ: P, tòa nhà A tầng, chung cư Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1987.
- Ông Trần Quang D1, sinh năm 1981.
- Ông Nguyễn Tiến P, sinh năm 1995.
- Bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1997.
- Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1987.
- Ông Bùi Thanh H2, sinh năm 1981.
- Ông Phạm Văn H3, sinh năm 1982.
- Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1964.
Địa chỉ: P 2304, CT7K, chung cư D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số nhà C, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà F, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà F, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà B, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà B, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà I, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thùy L, sinh năm 1990 và chị Phạm Thu H, sinh năm 2002 cùng ở tòa nhà 18 tầng, chung cư Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Khoảng 08 giờ ngày 26/5/2024, L gặp chị H ở hành lang chung cư. L làm quen, giới thiệu cho chị H biết việc L đang kinh doanh bán quần áo online và mời chị H mua quần áo. Khoảng 11 giờ cùng ngày, chị H đến căn hộ 1112 của L mua bộ quần áo và được L mời đến tối đi ăn cơm. Khoảng 19 giờ cùng ngày, chị H đến căn hộ của L ăn cơm. Lúc này do cần tiền chơi game nên L nảy sinh ý định rủ chị H góp tiền mua bán quần áo rồi sau đó sẽ chiếm đoạt tiền. L nói dối chị H đang có đơn hàng quần áo với giá 34.000.000 đồng, mỗi người góp 17.000.000 đồng để mua về bán, tiền lãi sẽ chia đôi. Chị H đồng ý rồi sử dụng tài khoản Ngân hàng V số 0583292666 chuyển khoản 17.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng V1 số [...] của L để đặt mua quần áo. Sau khi
nhận được tiền do chị H chuyển đến, L không mua quần áo mà sử dụng số tiền này chơi game trên trang web “Thienhabet” và bị thua hết.
Khoảng 07 giờ ngày 27/5/2024, L đến căn hộ của chị H tiếp tục nói dối có đơn hàng quần áo với giá 36.000.000 đồng và bảo chị H góp 23.000.000 đồng để mua về bán. Chị H đồng ý rồi chuyển khoản cho L 23.000.000 đồng. Tuy nhiên, L không mua quần áo mà sử dụng số tiền này chơi game và chi tiêu cá nhân hết. Sau đó, L gọi điện cho chị H qua zalo nói dối là có đơn hàng quần áo mới với giá 23.000.000 đồng nhưng L không có tiền và bảo chị H bỏ tiền ra mua về bán. Chị H tưởng thật nên chuyển khoản cho L 23.000.000 đồng. L sử dụng số này chơi game và chi tiêu cá nhân hết. Buổi tối cùng ngày, chị H gọi điện cho L hỏi thì L nói dối đã thuê người đóng hàng và gửi cho khách đặt mua.
Khoảng 16 giờ ngày 31/5/2024, L đến căn hộ của chị H nói dối có đơn hàng quần áo với giá 15.000.000 đồng nhưng L không có tiền và bảo chị H bỏ toàn bộ tiền ra mua. Chị H nói chỉ có 6.000.000 đồng trong tài khoản thì L bảo lấy tiền tiết kiệm để thêm vào. Chị H đập vỡ con lợn bằng đất đựng tiền tiết kiệm rồi đưa cho L 9.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 6.000.000 đồng. Sau khi được chị H chuyển tiền, L đi đến cửa hàng mua bán điện thoại “Hải Dung Mobile” ở số B, đường H, phường N, thành phố B nhờ chị Nguyễn Thị D2, sinh năm 1987 là chủ cửa hàng chuyển khoản 9.000.000 đồng đến tài khoản của L và L trả bằng tiền mặt. Chị D2 sử dụng tài khoản Ngân hàng T3 số 19033108808019 mang tên chồng là Bùi Thanh H2 chuyển khoản cho L 9.000.000 đồng. L sử dụng 15.000.000 đồng chơi game và bị thua hết.
Sau khi chơi game bị thua hết tiền, L nảy sinh ý định mượn xe mô tô của chị H rồi mang đi cầm cố lấy tiền tiếp tục chơi game. Khoảng 08 giờ ngày 01/6/2024, L đến căn hộ của chị H hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 98B3- 927.77 nói dối để đi lấy hàng. Chị H tưởng thật nên đồng ý cho L mượn xe và giấy tờ xe. L điều khiển xe mô tô của chị H đến nhà anh Trần Quang D1, sinh năm 1981 ở số C, đường N, phường T, thành phố B để cầm cố vay 25.000.000 đồng. Anh Dũng hỏi về nguồn gốc xe thì L nói dối là xe của người cùng làm nhờ cầm cố hộ để lấy tiền mua hàng. Anh D3 sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0979705911 chuyển 25.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của L. Sau đó, L sử dụng số tiền này chơi game và bị thua hết. L gọi điện thoại cho anh D3 nói dối cần tiền mua hàng và bảo cho vay thêm 5.000.000 đồng. Anh D3 đồng ý rồi chuyển khoản cho L 5.000.000 đồng. L sử dụng chơi game và thắng 110.157.000 đồng.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, chị H gọi điện thoại cho L yêu cầu trả lại tiền vì không muốn anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1987 ở phòng 2304, tòa CT7K, chung cư D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội là bạn trai của chị H biết việc chuyển tiền cho L. L chuyển khoản trả chị H 45.000.000 đồng và chuyển khoản trả anh D3 5.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền, L bảo chị H ngày hôm sau chuyển lại cho L 45.000.000 đồng để đi lấy hàng.
Khoảng 07 giờ 02/6/2024, L gọi điện bảo chị H chuyển 43.000.000 đồng cho L để đi lấy hàng. Chị H đồng ý và chuyển khoản cho L 43.000.000 đồng. L sử dụng số tiền này chơi game và bị thua hết. Khoảng 10 giờ cùng ngày, L gặp và nói dối chị H cho mượn điện thoại di động để sử dụng. Chị H đồng ý và đưa chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax cho L mượn. L tháo sim điện thoại và đưa cho chị H chiếc điện thoại Iphone 7 Plus để sử dụng. L gọi điện cho anh D3 hỏi vay thêm 5.000.000 đồng. Anh D3 đồng ý chuyển khoản cho L 5.000.000 đồng. Tiếp đến, L gọi điện cho chị H hỏi vay 7.000.000 đồng nhưng chị H nói chỉ có 2.000.000 đồng trong tài khoản. Do L đang cầm điện thoại của chị H nên L bảo chị H gửi mật khẩu tài khoản ngân hàng để L chuyển tiền. Chị H đồng ý nhắn tin cho L mật khẩu tài khoản ngân hàng để L tự chuyển 2.000.000 đồng từ tài khoản của chị H đến tài khoản của L. L sử dụng chơi game và bị thua hết.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, L hẹn chị H đến phòng của L để nói chuyện. L nói dối đã cầm cố điện thoại của chị H để lấy tiền mua hàng nhưng không đủ tiền và bảo chị H vay thêm 15.000.000 đồng để lấy hàng. Chị H gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh T1 hỏi vay 10.000.000 đồng. Anh T1 chuyển khoản cho chị H vay 10.000.000 đồng. Do L đang cầm điện thoại của chị H và biết mật khẩu tài khoản ngân hàng nên L tự chuyển số tiền này đến tài khoản của L rồi chơi game và bị thua hết.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, L mang điện thoại của chị H đến cửa hàng mua bán điện thoại “HP Mobile” của anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1995 ở ki ốt số 12, chợ H5, phường T, thành phố B cầm cố vay 23.000.000 đồng. L nói với anh P là điện thoại của L nên anh P đồng ý rồi sử dụng tài khoản ngân hàng V số 38118091997 của vợ là Nguyễn Thanh H1 chuyển khoản cho L 23.000.000 đồng. L sử dụng số tiền này chơi game và chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi biết L chiếm đoạt tiền, xe mô tô và điện thoại của chị H, anh Nguyễn Thanh T1 gọi điện thoại bảo L đến phòng của chị H để nói chuyện. Anh T1 và chị H yêu cầu L viết giấy tường trình, giấy nhận tiền và bản cam kết khắc phục. Sau khi viết giấy xong, anh T1 cùng chị H và L đến phòng ở của L nói cho ông Vũ Tùng D, sinh năm 1963 là bố L biết sự việc. Ông D và L vay của người thân được 3.000.000 đồng trả cho chị H. L đưa anh T1 và chị H đến của hàng mua bán điện thoại “HP Mobile” để chuộc điện thoại. Anh T1 chuyển khoản 23.600.000 đồng cho anh P và chuộc lại điện thoại của chị H.
Ngày 04/6/2024, chị H và anh T1 gọi L và ông D đến phòng ở của chị H nói chuyện về việc khắc phục hậu quả. L bảo chưa vay được tiền nên anh T1 yêu cầu L viết giấy nhận tiền chuộc xe và điện thoại ghi ngày 03/6/2024. Anh T1 bảo L gọi điện thoại cho anh D3 để chuộc xe máy thì anh D3 đồng ý và hẹn gặp ở khu vực siêu thị G. Buổi tối ngày 04/6/2024, anh D3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 927.77 đến đường T, phường D, thành phố B gặp L thì bị Công an thành phố B kiểm soát, thu giữ xe mô tô kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phạm Thu H.
Cùng ngày, chị H có đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, dung lượng 256GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus.
Ngày 05/6/2024, chị H giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 giấy nhận tiền chuộc xe và điện thoại; 01 bản tường trình; 01 giấy nhận tiền và 01 bản cam kết khắc phục đều ghi ngày 03/6/2024. Cơ quan điều tra triệu tập L đến làm việc thì L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của Vũ Thùy L trên các tài liệu nêu trên. Kết luận giám định số 1774/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4 – Trừ chữ ký, chữ viết mang tên Vũ Tùng D dưới mục “Người bảo lãnh”) so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thùy L trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M6) là do cùng một người ký, viết ra.
Kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐG ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, số máy JK03E7886014, số khung RLHJK035XPZ185976, biển kiểm soát 98B3- 927.77, đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 09/10/2023, có giá trị tại thời điểm tháng 6/2024 là 24.000.000 đồng
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, dung lượng 256GB, số Imei 1: 356616949284130, số Imei 2: 356616948687648, đã qua sử dụng, mua tháng 10/2023, có giá trị tại thời điểm tháng 6/2024 là 28.000.000 đồng
Tổng cộng: 52.000.000 đồng
Cơ quan điều tra đã sao kê tài khoản ngân hàng mang tên Vũ Thùy L, Phạm Thu H, Nguyễn Thanh T1, Trần Quang D1, Nguyễn Tiến P, Nguyễn Thanh H1, Bùi Thanh H2 phát hiện có giao dịch liên quan đến việc chuyển tiền nêu trên. Cơ quan điều tra đã cho anh Trần Quang D1, Nguyễn Tiến P nhận dạng ảnh Vũ Thùy L và cho L nhận dạng ảnh anh D1 và anh P. Kết quả anh D1, anh P và L đều nhận đúng ảnh và xác định L cầm cố cho anh D1 chiếc mô tô Honda Vision biển kiểm soát 98B3- 927.77 và cầm cố cho anh P chiếc điện thoại di động Iphone 15 Promax.
Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh B cung cấp thông tin về trang web “thienhabest” nhưng không thể xác định vì không có thông tin tên miền do đơn vị nào quản lý.
Bản cáo trạng số 228/CT-VKS ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vũ Thùy L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng nêu và đồng ý trả toàn bộ tiền cho bị hại là chị H, và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh D1 và anh T1.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thùy L từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 05/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị H 85.000.000 đồng, bồi thường cho anh D1 30.000.000 đồng, bồi thường cho anh T1 23.600.000 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của Vũ Thùy L.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
- [2]. Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, Hội đồng xét xử đã triệu tập hợp lệ và hồ sơ vụ án đã có lời khai của những người trên, do đó sự vắng mặt không ảnh hưởng đến quá trình xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt.
- [3]. Về hành vi của bị cáo theo Cáo trạng truy tố:
Lời khai của bị cáo L tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác, đã đủ căn cứ kết luận:
Vũ Thùy L dùng thủ đoạn gian dối, rủ chị Phạm Thu H cùng góp tiền mua quần áo về bán; nói dối mượn chiếc xe mô tô để đi lấy hàng và mượn điện thoại di động để sử dụng, nhưng L không mua quần áo mà sử dụng tiền để chơi game, cầm cố xe mô tô, điện thoại của chị H lấy tiền chơi game và bị thua. Bằng thủ đoạn nêu trên từ ngày 26/5/2024 đến ngày 02/6/2024, L đã chiếm đoạt của chị H tổng số tiền 88.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 98B3- 927.77 trị giá 24.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax trị giá 28.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà L chiếm đoạt của chị H là 140.000.000đồng.
Hành vi trên của bị cáo Vũ Thùy L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [4] Về tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng lòng tin của chị H, lừa dối chị H chuyển tiền cho mình để mua hàng quần áo, nhưng thực tế L đã sử dụng tiền chị H chuyển để chơi game và tiêu xài cá nhân. Đồng thời mượn xe mô tô của chị H để đi, mượn điện thoại của chị H nhưng sau đó đã đem xe và điện thoại đi cầm cố lấy tiền ăn tiêu, không trả lại tài sản cho chị H; hành vi này đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự an ninh tại địa phương, bị dư luận và quần chúng nhân dân lên án. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời
hạn để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
- [5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chị H nhiều lần, cụ thể vào các ngày 26/5/2024; ngày 27/5/2024; ngày 31/5/2024; ngày 01/6/2024; ngày 02/6/2024, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả (bồi thường cho bị hại 3.000.000đồng), khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và đầu thú nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- [6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích tư lợi, ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử còn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền để sung công quỹ nhà nước theo khoản 5 điều 174 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do bị cáo không nghề nghiệp, không có tài sản, có con còn nhỏ tuổi, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo hành người có ích cho xã hội.
- [7]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường cho chị Phạm Thu H số tiền 3.000.000đồng. Chị H yêu cầu bị cáo phải bồi thường 85.000.000 đồng. Anh T1 yêu cầu L bồi thường 23.600.000 đồng tiền chuộc điện thoại. Anh Dũng yêu cầu L bồi thường 30.000.000 đồng. Xét thấy đây là yêu cầu hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, và bị cáo đồng ý bổi thường, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị L 85.000.000đồng, bồi thường cho anh D1 30.000.000đồng, bồi thường cho anh T1 23.600.000đồng là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.
- [8]. Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị H4: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 927.77 kèm theo đăng ký xe và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus được nhập kho vật chứng là điện thoại bị cáo L dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu dung ngân sách nhà nước.
- [9]. Về những vấn đề khác có liên quan: Đối với Trần Quang D1, Nguyễn Tiến P nhận cầm cố xe mô tô, điện thoại di động và cho Vũ Thùy L vay tiền nhưng không biết là tài sản do L phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
- [10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBNTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
- [11]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.
- [12]. Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 điều 174; điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự. điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBNTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
- Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Thùy L 03 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 05/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Phạm Thu H 85.000.000 đồng (T2 mươi lăm triệu đồng), bồi thường cho anh Trần Quang D1 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T1 23.600.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Về vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của bị cáo Vũ Thùy L.
- Về án phí: Bị cáo Vũ Thùy L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.930.000 đồng (Sáu triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Mạnh Thắng |
Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 239/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Linh "Lừa đảo"
