Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Kiểm

Bà Lý Thị Thiên Nga

- Thư ký phiên toà:

Bà Đỗ Thị Hạnh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà:

Bà Trịnh Thị Nhật H - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an thành phố H đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 591/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Anh C, sinh ngày 19/7/1996 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số C Đà Nẵng, phường L, Quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Anh H1 và bà Mai Thị X; không có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 10 ngày 28/4/2022 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, thời hạn 18 tháng. C đã chấp hành xong quyết định ngày 09/11/2023 (chưa được xóa); nhân thân: Bản án số 91 ngày 21/9/2012, Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền xử 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Mai A C thực hiện hành vi phạm tội khi 15 tuổi 10 tháng 28 ngày; chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/12/2013 (được coi là không có án tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự); Bản án số 62 ngày 23/7/2020, Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xoá án tích); Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 18 ngày 30/5/2019 của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, thời hạn 18 tháng (được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); tạm giữ từ ngày 16/01/2024, đến ngày 22/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 16/01/2024, tại khu vực Cổng 4 Công ty TNHH MTV C1, số C đường L, phường M, Quận N, thành phố Hải Phòng, Ban C2 phối hợp với Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm Bộ đội Biên phòng thành phố H bắt quả tang Mai Anh C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ: 01 bao thuốc lá S màu bạc, kích thước khoảng 8,5 x 4,5 x 02 cm (mẫu số 01), bên trong có 06 gói nilon gồm: 01 gói nilon kích thước khoảng 05 x 07 cm chứa 89 viên nén màu hồng (mẫu số 02) và 01 viên nén màu xanh (mẫu số 03); 05 gói nilon kích thước mỗi gói khoảng 01 x 01 cm, bên trong mỗi gói đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 4); 01 gói nilon kích thước 01 x 01 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng tại cạp quần đang mặc của Mai Anh C (mẫu số 5); 01 xe máy Espero BKS 15 AA-170.68.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Mai A Cường dương tính với test thử chất ma tuý Methamphetamine, M và M1, H2.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai A C không thu giữ vật chứng liên quan đến ma tuý.

Kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

  • Các viên nén màu hồng của mẫu số 2 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 8,47 gam Methamphetamine.
  • Viên nén màu xanh của mẫu số 3 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,09 gam Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng của mẫu số 4 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,99 gam Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng của mẫu số 5 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,16 gam Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Mai Anh C khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, Mai A C điều khiển xe máy ESPERO BKS 15AA-170.68 đến đón bạn tên P (chưa xác định được căn cước, địa chỉ) tại quán nước ở C, địa chỉ số C L, phường M, Quận N Khi gặp nhau, P bảo C chở P đến khu vực bến xe miền T có việc (P không nói cụ thể việc gì). Đến nơi, P bảo C đứng đợi còn P xuống xe đi bộ về phía trước gặp 01 người phụ nữ, khoảng 2-3 phút sau, P quay lại bảo C chở P về nghĩa trang V, quận H. Khi đi đến đường B, P đưa tiền cho C vào quán tạp hóa để mua 02 chai nước và bật lửa. Tại đây, P hỏi C thuốc lá đâu. C nói: “Hết rồi”, đồng thời đưa cho P cầm vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S, rồi vào quán tạp hóa mua 02 chai nước và 01 bật lửa. Khi cả hai đến nghĩa trang V, P rủ C cùng sử dụng ma túy đá, C đồng ý. P tự tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy, sau đó lấy 01 gói ma túy đá và 01 viên nén màu hồng từ trong bao thuốc lá, đổ một ít ma túy đá và cho 01 viên nén màu hồng vào tẩu thủy tinh P để sẵn trong người, dùng bật lửa châm đốt dưới tẩu thủy tinh cho ma túy đá cháy thành khói rồi hút vào cơ thể. P sử dụng hai hơi thì đưa cho C sử dụng. C sử dụng được 01 hơi thì P bảo C chở về Cổng C có việc, đồng thời đưa cho C gói ma túy đá chưa sử dụng hết để C cầm về sử dụng. C giấu gói ma túy đá P đưa vào trong cạp quần, rồi lấy xe chở P. Khi về đến gần Cổng C, P hỏi mượn điện thoại của C để gọi cho bạn và cầm bao thuốc lá bên trong chứa ma tuý đá cho vào túi áo bên trái của C, nhờ cầm hộ. Đến nơi, P bảo C vào quán nước ngồi chờ còn P xuống xe, cầm điện thoại của C bỏ đi. Khi vào quán nước, biết trong bao thuốc lá P vừa đưa có chứa ma tuý nên C cầm bao thuốc lá giấu dưới chân bàn nước gần chỗ C ngồi thì bị lực lượng Biên phòng Cửa khẩu C3 kiểm tra, bắt quả tang.

Bên cạnh đó, Mai A C còn khai do C nghiện ma túy nên ngoài sử dụng ma tuý đá, C còn thường xuyên sử dụng ma tuý Heroine.

Lời khai nhận tội nêu trên của Mai Anh C, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến cùng vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xác minh xe máy ESPERO BKS 15AA-170.68 có số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, sửa chữa các ký tự, không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Tên chủ xe là chị Mai Thị Hồng N (sinh năm 1993, nơi thường trú: Số C Đà Nẵng, phường L, Quận N), là chị gái của Mai Anh C. Chị N mua xe máy trên với mục đích để đi lại hàng ngày từ năm 2019. Ngày 16/01/2024, C hỏi mượn xe chị N đi có việc. Chị N không biết việc C sử dụng xe để đi mua ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N đã ra Quyết định số 2322 ngày 03/5/2024 trả 01 xe máy ESPERO BKS 15AA-170.68 cho chị Mai Thị Hồng N.

Tại Cáo trạng số 235/CT-VKSNQ ngày 04/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 76MT/PC09 chứa 7,96 gam viên nén của mẫu số 2; 0,89 gam tinh thể của mẫu số 4; 0,08 gam tinh thể của mẫu số 5 và vỏ bao bì của bốn mẫu gửi giám định(niêm phong dán kín sau giám định); 01 vỏ bao thuốc lá S đựng trong 01 phong bì (niêm phong dán kín có chữ của những người liên quan), theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
  • Đối với 01 xe máy Espero BKS 15 AA-170.68, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu là chị Mai Thị Hồng N.
  • Trong vụ án này, đối tượng P là người đưa bao thuốc lá S trong chứa ma tuý cho C cất giấu, do chưa xác định được căn cước, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
  • Việc C và P cùng nhau sử dụng ma tuý đá tại khu vực nghĩa trang V, quận H, thành phố Hải Phòng, ngoài lời khai của C, không có các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh. Do đó không có căn cứ xử lý C về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

+ Về căn cứ xác định bị cáo có tội:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, lời khai thể hiện:

Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 16/01/2024, tại khu vực cổng 4 Công ty TNHH MTV C1, số C đường L, phường M, Quận N, thành phố Hải Phòng, M C bị Ban C2 phối hợp với Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm Bộ đội Biên phòng thành phố H bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 9,71 gam Methamphetamine, trong đó: 0,16 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân; 9,55 gam Methamphetamine C cất giấu hộ P (chưa xác định được căn cước, địa chỉ).

Theo kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Các viên nén màu hồng của mẫu số 2 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 8,47 gam Methamphetamine; viên nén màu xanh của mẫu số 3 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,09 gam Methamphetamine; tinh thể màu trắng của mẫu số 4 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,99 gam Methamphetamine; tinh thể màu trắng của mẫu số 5 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,16 gam Methamphetamine.

Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

+ Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo có 01 tiền sự chưa được xoá; 01 tiền án đã được xoá án tích; 01 tiền án được coi là không có án tích theo quy định của pháp luật, 01 tiền sự được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém. Tuy nhiên, tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Về áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo:

[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian đủ để tránh xa ma tuý, cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung theo quy định khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

+ Về áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo:

[7] Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

+ Về xử lý vật chứng:

[8] Do chất ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 76MT/PC09 chứa 7,96 gam viên nén của mẫu số 2; 0,89 gam tinh thể của mẫu số 4; 0,08 gam tinh thể của mẫu số 5 và vỏ bao bì của bốn mẫu gửi giám định; 01 vỏ bao thuốc lá S đựng trong 01 phong bì, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

[9] Đối với 01 xe máy Espero BKS 15 AA-170.68, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định số 2322 ngày 03/5/2024 trả 01 xe máy ESPERO BKS 15AA-170.68 cho chị Mai Thị Hồng N theo quy định của pháp luật.

+ Các vấn đề khác:

[10] Trong vụ án này, đối tượng P là người đưa bao thuốc lá S trong chứa ma tuý cho C cất giấu do chưa xác định được căn cước, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.

[11] Việc C và P cùng nhau sử dụng ma tuý đá tại khu vực Nghĩa trang V, quận H, thành phố Hải Phòng, ngoài lời khai của C, không có các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh. Do đó không có căn cứ xử lý C về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Mai Anh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Mai Anh C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 16/01/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 76MT/PC09 chứa 7,96 gam viên nén của mẫu số 2; 0,89 gam tinh thể của mẫu số 4; 0,08 gam tinh thể của mẫu số 5 và vỏ bao bì của bốn mẫu gửi giám định (niêm phong dán kín sau giám định); 01 vỏ bao thuốc lá S đựng trong 01 phong bì (niêm phong dán kín có chữ ký của những người liên quan), theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan Điều tra Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Ngô Quyền
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 239/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Anh Cường tàng trữ ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger