TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 239/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 25/6/2024.
Về việc tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Khánh
2. Ông Kiều Xuân Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 192/2024/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 05 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST– HNGĐ ngày 31 tháng 05 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Chử Thúy D, sinh ngày 15/6/1993
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/6/1991
Đều có nơi thường trú: thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt: chị D (có đơn xin vắng mặt), anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 09/5/2024, những lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Chử Thúy D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Chử Thúy D kết hôn với anh Nguyễn Anh T trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 02/02/2015. Sau khi kết hôn, anh, chị chung sống với nhau tại gia đình nhà chồng chị ở Khu E, thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Quá trình sinh sống vợ chồng chị sinh sống hòa thuận cho đến khoảng đầu năm 2020 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T chơi bời, bỏ bê, không chăm sóc, quan tâm gì đến vợ con, bỏ mặc con cho chị nuôi dưỡng. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng cho đến khoảng tháng 4/2020 thì anh T đuổi chị ra khỏi nhà và sau đó chị đã cùng 02 con chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng chị cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị D thấy mâu thuẫn đã quá trầm trọng, kéo dài, không thể khắc phục được và chị xác định tình cảm không còn nên chị xin ly hôn anh T để ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: vợ chồng anh, chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 16/11/2015 và cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 06/8/2018. Hiện nay cả 02 cháu đều đang ở với chị. Hiện nay chị đang làm nghề cắt tóc thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Ly hôn chị xin được nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị D yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.800.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: không có nên Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo Bản tự khai ngày 15/5/2024, bị đơn là anh Nguyễn Anh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị D kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy bannhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 02/02/2015. Quá trình sinh sống vợ chồng có mâu thuẫn về kinh tế và chị D đã bỏ về nhà ngoại từ năm 2019. Anh thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng nên chị D xin ly hôn anh không đồng ý. Anh đề nghị Tòa án hòa giải để gia đình đoàn tụ. Nếu chị D cương quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 16/11/2015 và cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 06/8/2018. Hiện nay 02 cháu đều đang sinh sống ở nhà ngoại nhưng cháu T1 đang học tại xã T, sáng chị D đưa cháu T1 đi học, chiều đón về. Nếu phải ly hôn anh xin nuôi cháu T1, còn cháu P do chị D nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
- Về tài sản chung: không có.
Tại phiên tòa, chị D có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt không có ký do lần thứ hai nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Chử Thúy D với anh Nguyễn Anh T.
Về con chung: giao cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 16/11/2015 cho anh Nguyễn Anh T nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 06/8/2018 cho chị Chử Thúy D nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Anh T có nơi thường trú tại Khu5, thôn D, xã T, huyện M nên theo quy định của pháp luật yêu cầu giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình của chị Chử Thúy D với anh Nguyễn Anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Chị Chử Thúy D có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án xét xử và anh Nguyễn Anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị D, anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giành quyền kháng cáo cho chị D, anh T theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Chử Thúy D và anh Nguyễn Anh T: Anh, chị tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 02/02/2015 (đăng ký kết hôn số 13) nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Qua lời khai của chị D và kết quả xác minh thể hiện: Quá trình chung sống anh, chị đã bắt đầu mâu thuẫn từ năm 2019, 2020 với nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và anh, chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị D xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên chị D xin ly hôn anh T. Nhận thấy, quá trình chung sống giữa anh, chị có nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài, quan điểm sống không tương đồng, sống ly thân nhưng không khắc phục được mâu thuẫn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Chị D xin được ly hôn anh T. Do vậy thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chử Thúy D với anh Nguyễn Anh T là phù hợp.
[3] Về con chung: Anh, chị có hai con chung là: cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 16/11/2015 và cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 06/8/2018. Xét cháu Nguyễn Thanh T1 có nguyện vọng muốn được ở với chị D, cháu T1 và cháu P sống với chị D từ bé, chị D đã chăm sóc giáo dục các cháu từ bé, các cháu đã quen với môi trường sống, học tập ở bên chị D. Anh T đề nghị Tòa án hòa giải để đoàn tụ gia đình và đã được Tòa án thông báo về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh T không đến Tòa làm việc, không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Nay chị D xin được nuôi cả 02 con chung, chị D có thu nhập, chỗ ở ổn định đủ điều kiện cho cháu T1, cháu P học tập, phát triển bình thường. Vì vậy, cần giao cả 02 con chung là cháu T1, cháu P cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của các cháu, phù hợp với nguyện vọng của cháu.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị D yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con chung là 1.800.000 đồng/ tháng. Hội đồng xét xử thấy: Quá trình giải quyết vụ án xác minh tại địa phương và gia đình anh T xác định anh T làm nghề sửa chữa điện nước, từ đó cho thấy anh T có thu nhập hàng tháng nên cần phải buộc anh T cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
Căn cứ khoảnĐiều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”; Nghị định số 24/2023/NĐ-CP ngày 14/5/2023 của Chính phủ quy định: “mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2023 là 1.800.000 đồng/tháng”; Căn cứ vào Điểm 2 Mục III Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp bổ sung một số vấn đề về áp dụng pháp luật: “Mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con tối thiểu không dưới 1/2 (một phần hai) mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm đối với một người con”. Xét, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng là xuất phát từ đặc điểm của trẻ và từ nhu cầu cơ bản để đảm bảo cho trẻ phát triển lành mạnh, hài hòa về thể chất và tinh thần. Trẻ không chỉ cần được nuôi dưỡng đầy đủ về dinh dưỡng, được học tập, chăm sóc sức khoẻ, vui chơi mà còn được sống trong một môi trường hòa bình, trong sạch, đầy tình yêu thương.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu buộc anh Nguyễn Anh T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.800.000 đồng/tháng của chị D là phù hợp nên chấp nhận yêu cầu của chị D. Buộc anh Nguyễn Anh T cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.800.000 đồng/tháng, kể từ ngày 01/7/2024.
[5] Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng, chị Chử Thúy D xin chịu cả là phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận; Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng anh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 88 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chử Thúy D xin ly hôn anh Nguyễn Anh T. Chị Chử Thúy D được ly hôn anh Nguyễn Anh T.
2. Về con chung: chị Chử Thúy D với anh Nguyễn Anh T có 02 con chung là: cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 16/11/2015 và cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 06/8/2018. Khi ly hôn, giao 02 con chung là cháu T1, cháu P cho chị Chử Thúy D nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1, cháu P thành niên hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án.
Buộc anh Lê Khắc C phải cấp dưỡng nuôi mỗi con chung là 1.800.000 đồng/tháng, kể từ ngày 01/7/2024 cho đến khi cháu T1, cháu P thành niên hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án. Anh Nguyễn Anh T có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xét.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Chử Thúy D phải chịu cả để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8698 ngày 09/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.
Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng anh Nguyễn Anh T phải chịu để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Chử Thúy D, anh Nguyễn Anh T có quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thịnh Quang Trung |
Bản án số 239/2024/HNGĐ - ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 239/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Chử Thúy D xin ly hôn anh Nguyễn Anh T
