|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 239/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Dương Thị Kim Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/TB-TA ngày 07 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04/TB-TA ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 05/TB-TA ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đoàn Việt A, sinh năm 1991; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Việt A được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 18/7/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng nhau tại nhà bố mẹ chồng được gần 01 năm, sau đó do mâu thuẫn với gia đình nhà chồng nên
chị và anh Việt A đã chuyển ra ngoài ở riêng. Quá trình chung sống, anh Việt A thường xuyên có hành vi đánh đập và chửi mắng chị nên năm 2015 chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang sinh sống. Năm 2019, khi chị liên lạc về với gia đình chồng thì được biết anh Việt A đã đi lao động ở Nhật Bản đến nay chưa về nước. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Việt A.
- Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Do chị D không cung cấp được địa chỉ của anh Việt A ở Nhật Bản nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh Việt A. Ông Đoàn Hữu H (là bố đẻ của anh Đoàn Việt A) trình bày: Ông không biết địa chỉ của anh Việt A ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh Việt A vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Việt A biết. Quan điểm của anh Việt A xác định vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị D. Về con chung: Anh Việt A xác định vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Việt A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị D vắng mặt, có đơn và quan điểm xin vắng mặt. Anh Việt A vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị D được ly hôn với anh Đoàn Việt A. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn anh Đoàn Việt A hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị D không cung cấp được địa chỉ của anh Việt A tại Nhật Bản. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị D và gia đình anh Việt A cung cấp địa chỉ, nhưng chị D và gia đình Việt A xác định anh Việt A vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, chị D có đơn xin ly hôn, anh Việt A đã biết nhưng không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3] Tại phiên tòa, chị D vắng mặt, có đơn và quan điểm xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Việt A đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Đoàn Việt A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 18/7/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, do mâu thuẫn với anh Việt A và gia đình nhà chồng nên năm 2015 chị D đã chuyển về quê nhà tại tỉnh Tuyên Quang sinh sống. Từ đó, vợ chồng sống ly thân, không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Năm 2018 anh Việt A đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản. Nay chị D và anh Việt A đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị D có đơn xin ly hôn, anh Việt A đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh Việt A đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị D được ly hôn anh Việt A là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị D và anh Việt A không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị D là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều
228, Điều 271, Điều 273, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Đoàn Việt A.
2. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000445 ngày 29/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị D đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh Việt A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chất |
Bản án số 239/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 239/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị D xin ly hôn anh Đoàn Việt A
