|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 239/2025/DS-PT
Ngày 18 - 6 - 2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2022/TLPT-DS về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp tiền bồi thường quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất”.
Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch; kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961; những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2022/DS-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2025/QĐXX-PT ngày 08 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 337/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 4 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 411/2025/TB-TA ngày 15 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 424/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962.
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961.
Cùng địa chỉ: Số nhà H, L, ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà X: Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1995; địa chỉ: D, Khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 26/11/2021) (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Huy X1 – Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số nhà B, Ngõ F, đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1961 (đã chết)
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông T1:
- Bà Huỳnh Thị Ngọc T2, sinh năm 1962;
- Ông Phạm Tấn T3, sinh năm 1987;
- Bà Phạm Thị Kim T4, sinh năm 1981;
- Bà Phạm Thị Phương T5, sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: Số H, Tổ A, ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T2, anh T3, chị T4, chị T5: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1963; địa chỉ: Số C, Tổ A, ấp X, huyện N, tỉnh Đồng Nai; (Theo giấy ủy quyền ngày 08/3/2023).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị Ngọc T2, sinh năm 1962;
- Ông Phạm Tấn T3, sinh năm 1987;
- Bà Phạm Thị Kim T4, sinh năm 1981;
- Bà Phạm Thị Phương T5, sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: Số H, Tổ A, ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T2, anh T3, chị T4, chị T5: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1963; địa chỉ: Số C, Tổ A, ấp X, huyện N, tỉnh Đồng Nai; (Theo giấy ủy quyền ngày 08/3/2023) (có mặt).
5. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính:
1.1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2014; đơn xin sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2014, đơn xin thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/01/2016, các biên bản hòa giải, biên bản làm việc tại Tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X có đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Cao C trình bày, có sự bổ sung của ông Nguyễn Huy X1 – Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, bà X:
Vào năm 1988, vợ chồng ông T, bà X nhận chuyển nhượng của cụ Phạm Thị C1 (đã chết) diện tích đất 500m² tại ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, vị trí mặt tiền đường 769 (hiện nay là đường L) giáp ranh đất ông Phạm Văn T1. Hai bên có làm giấy sang nhượng canh tác và được Ban ấp và Ủy ban nhân dân xã P xác nhận ngày 28/01/1988. Cụ C1 có bàn giao đất trên thực địa, phần đất của vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng của cụ C1 và phần đất của ông Phạm Văn T1 được phân ranh bởi con mương nhỏ. Năm 1990, ông T1 xây nhà ở và tiến hành xây hàng rào tại vị trí con mương thể hiện ranh đất hai bên chính là hàng rào của ông T1.
Năm 1997, khi Nhà nước có chủ trương cho dân đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đất ở ấp Đ còn vợ chồng ông bà sống ở ấp P nên không biết để đi đăng ký kê khai. Tuy nhiên, sau đó Ủy ban nhân dân xã P kêu ông bà lên lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông bà mới biết được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trong giấy chỉ ghi diện tích đất 150m² thửa 226, tờ bản đồ số 05 (bản đồ địa chính cũ) xã P. Giấy được cấp ngày 24/11/1997. Ông bà có đến Ủy ban nhân dân xã P nhiều lần để hỏi sự việc nhưng Ủy ban nhân dân xã P hướng dẫn đến khi nào có đợt đăng ký bổ sung thì làm thủ tục. Do tin tưởng đất của mình nên ông bà không nộp đơn tranh chấp.
Đến năm 2009, Nhà nước tiến hành cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thành lập bản đồ mới, ông bà đã làm đơn đăng ký bổ sung diện tích đất thực tế. Qua đo đạc, ông bà phát hiện ông Phạm Văn T1 đã tự ý đập phá hàng rào, xây dựng lại hàng rào lấn chiếm qua đất của ông bà 55,4 m², chỉ còn lại thực tế là 444.6m². Do đó, ông bà chỉ đăng ký cấp bổ sung diện tích 444,6m² và có biên nhận hồ sơ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ngày 17/9/2009.
Cùng thời điểm năm 2009, do trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 24/11/1997 cho ông T đứng tên có phần đất của mẹ chồng nên bà đã tiến hành tách thửa. Vợ chồng ông bà giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà làm thủ tục tách thửa, Ủy ban nhân dân huyện cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T đứng tên với diện tích mới là 144,6m² thửa 64, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P. Lúc này diện tích đất bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ và không đúng thực tế nhưng ông bà vẫn không khiếu nại Ủy ban nhân dân huyện N vì tin rằng mình đã có biên nhận đăng ký ngày 17/9/2009 nên chờ làm giấy mới.
Tại biên bản xác minh hiện trạng ngày 17/9/2009 của Ủy ban nhân dân xã P, ông Nguyễn Văn T có ký tên xác nhận thửa 226 tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ) có diện tích 150m². Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 033032 ngày 04/02/2010, thửa mới là 64 tờ bản đồ 12 xã P có diện tích 144m², bị thu hồi 106,3 m² do mở rộng đường 769, diện tích còn lại 37,7m².
Tại đơn khởi kiện ban đầu, ông T, bà X yêu cầu ông T1 phải trả lại diện tích đất 500m² thửa 18 tờ bản đồ 12 xã P nhưng sau khi đo đạc, kiểm tra thực tế diện tích đất có sự chênh lệch nên ông bà khởi kiện bổ sung như sau: Diện tích đất thực tế là 144m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà, phần ông T1 lấn chiếm là 289.8m², trong đó có 33.5m² đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, còn lại 256,3 m² thửa 18 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1. Ông bà yêu cầu ông T1 cùng bà T2 phải trả lại diện tích đất 289.8m², trong đó có 33.5m² thửa 64 và 256,3m² cắt thửa 224 (mới 18) tờ bản đồ 12 xã P do ông Phạm Văn T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của ông T bà X xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T2 và các con của bà T2, ông T1 (hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn T1) phải giao trả cho ông T, bà X diện tích đất đo đạc thực tế là 240 m² cắt thửa 224, tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ), nay là thửa 18, tờ bản đồ 12, xã P, huyện N, theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh N1 được giới hạn bởi các mốc (4,5,9,10,11,12,13,4,5).
Đồng thời ông T, bà X yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Phạm Văn T1 đối với phần diện tích đất tranh chấp là 240 m² cắt thửa 224 tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ), nay là thửa 18, tờ bản đồ 12, xã P, huyện N, số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K458968 ngày 24/11/1997 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Phạm Văn T1.
Phần diện tích đất đo đạc thực tế 31,3 m² được giới hạn bởi mốc (3,4,13,12,3) theo Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, chi nhánh N1 đã được cấp giấy cho ông T, bà X (theo đơn khởi kiện ban đầu diện tích đất là 33.5m²) nên ông bà rút đơn khởi kiện đối với yêu cầu này.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, luật sư X1 thống nhất với Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh N1; đồng thời, thống nhất với kết quả chứng thư do Công ty cổ phần T8 cung cấp.
1.2. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Phạm Văn T1, và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguồn gốc đất mà ông T, bà X tranh chấp, đo đạc thực tế là 240 m² cắt thửa 224, tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ), nay là thửa 18, tờ bản đồ 12, xã P, huyện N, theo Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh N1 được giới hạn bởi các mốc (4,5,9,10,11,12,13,4,5) có nguồn gốc do cụ Phạm Thị C1 là bà cô của ông Phạm Văn T1 khai hoang trước năm 1975, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 19/11/1990, cụ C1 có lập tờ giao quyền thừa kế cho ông T1 thể hiện diện tích đất 15 sào là đất hoang hóa. Tờ giao quyền thừa kế giữa cụ C1 và ông T1 có các ông bà hội đồng gia tộc ký tên và được Ủy ban nhân dân xã P ký xác nhận. Từ thời điểm nhận giao quyền sử dụng đất năm 1990, ông T1 trực tiếp canh tác, quản lý, sử dụng ổn định không có ai tranh chấp. Phần đất ông T1 có ranh giới rõ ràng từ trước đến nay với các thửa đất liền kề. Ông T1 cất nhà ở, trồng cây ăn trái dừa, mận, chuối, tràm...sử dụng ổn định cho đến nay. Năm 1996, Ủy ban nhân dân xã P có thông báo đăng ký kê khai đất, ông T1 đến đăng ký tổng diện tích đất là 20.845 m² gồm các thửa số 58, 67, 68, 70, 81, 82, 83 tờ bản đồ 04 loại đất lúa, thửa 224 tờ bản đồ 05 loại đất thổ vườn (3.044m²). Trong quá trình quản lý, sử dụng, toàn bộ 20.845 m² ông T1 có đóng thuế sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K458968 ngày 24/11/1997. Đến năm 2004, ông T1 sửa chữa nhà, dỡ bỏ nhà cũ và xây dựng nhà cấp 4 như hiện nay. Thời điểm xây dựng nhà, ông T1 cho cháu Phạm Thị Kim L1 500m², ông T1 có xây rào và trồng một số cây ăn trái làm ranh nhưng chưa tách sổ cho bà L1. Đến năm 2008 có đoàn tiến hành đăng ký kê khai cấp sổ mới của Nhà nước, ông T1 đến đăng ký cấp đổi với diện tích 3.044m² thửa 224 tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ) tương ứng với thửa 64, 18, 25, 37, 38, 39,24 tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P nhưng đến nay ông T1 vẫn chưa được cấp đổi phần đất nêu trên do có tranh chấp đất với ông T, bà X.
Sau khi có chủ trương của Nhà nước mở rộng đường G, ông T1 nhận tiền bồi thường đất với một phần các thửa nêu trên, ông Tư nghĩ có nhận tiền bồi thường thửa 64 tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới).
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút đơn khởi kiện đối với phần diện tích đo đạc thực tế 31,3m² (tương đương với diện tích 33.5m² theo yêu cầu khởi kiện ban đầu) được giới hạn bởi các mốc (3,4,13,12,3) theo Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh N1 do phần đất này thực tế đã được cấp cho ông T, bà X nên anh K không có ý kiến gì đối với phần rút đơn này của phía nguyên đơn.
Đối với yêu cầu buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T1 phải giao trả diện tích đo đạc thực tế 240 m² cắt thửa 224, tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ), nay là thửa 18, tờ bản đồ 12, xã P, huyện N, theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, chi nhánh N1 được giới hạn bởi các mốc (4,5,9,10,11,12,13,4,5) và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến diện tích trên thì những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn hoàn toàn không đồng ý.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T1 vẫn tiếp tục giữ nguyên yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc ông T, bà X trả lại số tiền bồi thường giá trị đất 55.808.000 đồng đối với diện tích đất bị thu hồi 106,3 m² và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 033032 cấp ngày 04/02/2010 đối với diện tích 37.7 m² (thực tế đo đạc là 31,3m²) cắt thửa 64, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P do ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận diện tích đất 37.7 m² (đo đạc thực tế là 31.3 m²) cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T1 quản lý, sử dụng vì thực tế thửa 64 do ông T1 sử dụng ổn định từ năm 1990 và ông T1 đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/11/1997. Ông T, bà X từ trước đến nay không quản lý, sử dụng đất.
Đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cũng thống nhất với Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, chi nhánh N1, đồng thời cũng thống nhất với kết quả chứng thư do công ty cổ phần T8 cung cấp.
1.3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Huỳnh Thị T2, anh Phạm Tấn T3, chị Phạm Thị Kim T4, chị Phạm Thị Phương T5 có đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Văn K thống nhất trình bày:
Bà T2 và ông Phạm Văn T1 sống chung với nhau từ năm 1980, về nguồn gốc đất bà T2 thống nhất với lời trình bày có tại hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của đại diện theo ủy quyền, không có ý kiến gì khác. Vào năm 1996, ông T1 đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 20.8745m². Vợ chồng ông T1, bà T2 quản lý, sử dụng đất cho đến nay. Bà T2 không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của ông T, bà X.
Bà T2 cùng các con là anh T3, chị T4, chị T5 không bổ sung gì thêm, thống nhất lời trình bày của đại diện theo ủy quyền.
1.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân huyện N:
Ủy ban nhân dân huyện N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng đều xin vắng mặt trong các buổi làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xin vắng mặt tại phiên tòa.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2022/DS-ST ngày 24-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 50, Điều 135; Điều 136 Luật Đất đai 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn T1 là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 (hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn T1) trả lại diện tích 31.3 m² thuộc thửa 64 tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà X đối với bị đơn ông Phạm Văn T1 có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 240m² cắt thửa 224, tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ) nay là thửa 18, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai”.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Phạm Văn T1 là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 (hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn T1) đối với nguyên đơn về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường số tiền 55.808.000 đồng; công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 31,3 m² thuộc thửa 64, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
3.1. Kháng cáo:
Ngày 07-7-2022, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 07-7-2022, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
3.2. Kháng nghị:
Ngày 05-7-2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch kháng nghị phúc thẩm số: 40/QĐ-VKS-DS ngày 05-7-2022, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do vi phạm thẩm quyền xét xử, chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết theo thẩm quyền.
4. Về quá trình tố tụng của vụ án:
- Ngày 28-8-2017, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm lần đầu. Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2017/DS-ST ngày 28-8-2017 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã tuyên xử:
Buộc ông Phạm Văn T1 và bà Huỳnh Thị Ngọc T2 phải giao trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị X quyền sử dụng đất diện tích 35m² cắt thửa 64 tờ bản đồ số 12 xã P.
Không chấp nhận yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị X đối với diện tích 256,3m² thửa 18 tờ bản đồ số 12 xã P.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn T1 về yêu cầu công nhận diện tích đất 33,5m² cắt thửa 64 tờ bản đồ số 12 xã P.
Sau khi xét xử, bản án sơ thẩm bị kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 06-11-2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm. Bản án phúc thẩm số 181/2018/DS-PT ngày 06-11-2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2017/DS-ST ngày 28-8-2017 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Sau khi xét xử phúc thẩm, bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 100/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 18-7-2019.
- Tại quyết định Giám đốc thẩm số 266/2019/DS-GĐT ngày 07-11-2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm và Bản án dân sự phúc thẩm; giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
5. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
5.1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
- Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định về việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo đúng thành phần, vô tư, khách quan và không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5.2. Quan điểm đối với vụ án:
- Quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn thì vụ án này có ba quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu, tranh chấp tiền bồi thường đất bị thu hồi”. Bản án sơ thẩm ghi quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là thiếu một quan hệ “Tranh chấp tiền bồi thường đất bị thu hồi”. Vì vậy, cần bổ sung thêm quan hệ “Tranh chấp tiền bồi thường đất bị thu hồi” cho đầy đủ.
- Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án bị Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm tại Quyết định số 266 ngày 07/11/2019 hủy Bản án sơ thẩm số: 38/2017 ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, và hủy Bản án phúc thẩm số: 181/2018 ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch sơ thẩm lại. Sau đó, vào ngày 04/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch thụ lý lại theo thủ tục sơ thẩm. Sau khi thụ lý lại, nguyên đơn và bị đơn không rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp lần đầu (tức hủy quyết định hành chính cá biệt) mà vẫn giữ nguyên yêu cầu này.
Xác định thẩm quyền: Theo quy định khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, do yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt của nguyên đơn được thụ lý lần đầu tiên vào ngày 21/01/2016 và yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt của bị đơn được thụ lý lần đầu tiên vào ngày 23/5/2016, tức thụ lý trước ngày Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực, nên theo Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (Mục 2 phần IV).
Do giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao không hướng dẫn cụ thể trường hợp án sơ thẩm, phúc thẩm bị Tòa án cấp trên hủy và giao về sơ thẩm lại, thì áp dụng quy định về thẩm quyền hủy quyết định hành chính cá biệt tính từ thời điểm thụ lý sơ thẩm lại hay tính từ thời điểm thụ lý đầu tiên, nên giữa Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm có quan điểm khác nhau: Tòa án cho rằng thuộc thẩm quyền của huyện, còn Viện kiểm sát cho rằng thuộc thẩm quyền của tỉnh.
Xét thấy: Do hướng dẫn áp dụng pháp luật về thẩm quyền trong trường hợp này chưa cụ thể, rõ ràng dẫn đến sự không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời trong năm 2025, pháp luật tố tụng dân sự đang được dự thảo sửa đổi theo hướng giao cho Tòa án khu vực thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm án dân sự. Mặt khác, vụ án này đã kéo dài quá lâu (hơn 10 năm) mà chưa được giải quyết dứt điểm. Vậy nên không cần thiết phải hủy án sơ thẩm giao hồ sơ cho cấp tỉnh giải quyết sơ thẩm lại như kháng cáo của nguyên đơn và như đề nghị của quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Về đường lối:
Theo đơn khởi kiện ban đầu và đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn ông T, bà X yêu cầu Tòa án buộc ông T1 (sau khi ông T1 chết thì yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T1 gồm vợ và các con của ông T1) phải trả lại cho ông T, bà X diện tích đất 240m² cắt thửa 224, tờ bản đồ 05 (cũ), nay là thửa 18, tờ bản đồ 12 mới; và trả lại diện tích đất 33,5m², đo đạc thực tế là 31,3 m² thuộc một phần thửa 64, tờ bản đồ 12 (mới), xã P, huyện N. Diện tích đất tranh chấp thể hiện tại Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 2004/2022 ngày 08/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh N1 được giới hạn bởi các mốc (4,5,9,10,11,12,3,4,5). Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, ông T bà X rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 31,3m² vì nằm trong tổng diện tích 144m² thuộc thửa 64, tờ bản đồ 12 (mới), đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T vào ngày 04/02/2010. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp diện tích đất 31,3m² là phù hợp quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét giải quyết đối với diện tích đất 240m² cắt thửa 224, tờ bản đồ 05 (cũ), nay là thửa 18, tờ bản đồ 12 mới, được giới hạn bởi các mốc (4,5,9,10,11,12,13,4,5). Đồng thời nguyên đơn còn yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K458968 ngày 24/11/1997 do UBND huyện N cấp cho ông Phạm Văn T1 đối với phần diện tích đất tranh chấp là 240 m² nêu trên.
Phía bị đơn ông Phạm Văn T1 (sau khi ông T1 chết thì những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 giữ nguyên yêu cầu phản tố): Yêu cầu ông T, bà X trả lại số tiền bồi thường giá trị đất 55.808.000 đồng đối với diện tích đất bị thu hồi 106,3 m² và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 033032 cấp ngày 04/02/2010 đối với diện tích 31,3 m² cắt thửa 64, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P do ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận diện tích đất 31,3 m² cho bà T2 và các con ông T1, bà T2 quản lý, sử dụng.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bên đương sự yêu cầu đo vẽ lại, và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ kết quả đo vẽ tại “Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất” số 4857 ngày 17/6/2025 để giải quyết. Cụ thể: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết đối với diện tích 221,4m² được giới hạn bởi các mốc (14, B, C, D, E, 12, 13, 14). Bị đơn yêu cầu giải quyết đối với 36,3m² được giới hạn bởi các mốc (11, 12, E, D, 11).
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo hồ sơ thể hiện: Nguồn gốc đất tranh chấp 221,4m² cắt thửa 224, tờ bản đồ 05 (cũ), nay là thửa 18, tờ bản đồ 12 mới do cụ Phạm Thị C1 (cô ông T1) khai hoang trước năm 1975, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 27/01/1988, cụ Phạm Thị C1 làm “Giấy nhượng quyền canh tác” cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X diện tích đất 05 sào (500m²). Việc chuyển nhượng được lập thành văn bản, có xác nhận của Ban lãnh đạo ấp và Chủ tịch UBND xã P vào ngày 28/01/1988. Vợ chồng ông T, bà X nhận đất và quản lý sử dụng ổn định từ năm 1988 cho đến nay. Mặc dù, giấy chuyển nhượng không ghi vị trí nhưng có ranh giới và xác định tứ cận cụ thể: Phía Nam giáp mặt đường Lý Thái T6; phía Tây giáp mương và hàng rào nhà ông T1; phía Bắc giáp đất của ông T1; phía Đông giáp đất ông Tư T7. Xét thấy: Việc chuyển nhượng đất từ cụ C1 sang cho vợ chồng ông T từ năm 1988, có xác nhận của chính quyền địa phương (Ban lãnh đạo Ấ và Chủ tịch UBND xã P) là hợp pháp, đất không tranh chấp nên đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và khoản b.3, điểm 2.2 Mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đến ngày 16/9/2009, ông T có đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận bổ sung thửa đất số 18, tờ bản đồ 12, xã P diện tích 444,6m², nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng của cụ C1 vào năm 1988, và được cấp Biên nhận hồ sơ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ngày 17/9/2009. Điều này thể hiện ông T, bà X không từ bỏ quyền sử dụng đất của mình; khi phát hiện đất của mình sử dụng chưa được cấp giấy họ đã đăng ký xin cấp bổ sung. Vì vậy, việc ông T, bà X chưa kịp thời tiến hành kê khai xin cấp giấy CNQSDĐ đối với 500m² nhận chuyển nhượng của cụ C1 không làm mất đi quyền sử dụng đất của họ.
Đất của ông Phạm Văn T1 giáp ranh với đất của vợ chồng ông T. Nguồn gốc đất của ông T1 là được nhận thừa kế từ cụ C1 qua “Tờ giao quyền thừa kế” do cụ C1 lập ngày 09/11/1990, diện tích 15 sào (1.500m²), không xác định vị trí, tứ cận; có xác nhận của Ban lãnh đạo ấp và UBND xã P vào ngày 19/11/1990. Đến ngày 22/8/1995, ông T1 kê khai diện tích đất trên thành thửa 224, tờ bản đồ số 5 cũ, xã P, nguồn gốc đất do cụ C1 để lại năm 1990. Xét thấy: Cụ C1 chuyển nhượng đất cho ông T ngày 27/01/1988, sau đó 02 năm tức ngày 09/11/1990 cụ C1 mới cho đất ông T1. Ông T1 chỉ được cụ C1 cho 1.500m² nhưng lại kê thành 3.044m², tức kê tăng thêm 1.544m². Ông T1 được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K458968 ngày 24/11/1997 với tổng diện tích 20.845m² gồm các thửa số 58, 67, 68, 70, 81, 82, 83, 224 (cũ); trong đó thửa 224 diện tích 3.044m² (đất ở + vườn) đang tranh chấp với vợ chồng ông T. Năm 2008, ông T1 có đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thửa đất số 224, tờ bản đồ số 05 (cũ), tương ứng với các thửa 18, 64, 25, 37, 38, 39, 24, tờ bản đồ 12 (mới), chưa được cấp đổi (theo Công văn số 142/UBND –TP ngày 08/01/2021 của UBND huyện N). Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 13/7/2023, đại diện theo ủy quyền của bị đơn khẳng định ông T1 được cụ C1 cho 15 sào đất thổ vườn tương đương 1.500m², những diện tích đất khác của ông T1 là đất ruộng ở nơi khác, khi cấp giấy chứng nhận thì tăng lên thành 3.044m² là do mẹ ông T1 cho, nhưng không có giấy tờ gì chứng minh. Như vậy, có sự mâu thuẫn và chênh lệch rất lớn giữa diện tích ông T1 được cụ C1 cho là 1.500m² với diện tích đất ông T1 được cấp đối với thửa 224 là 3.044m² (chênh lệch tăng 1.544m²), và ông T1 không chứng minh được lý do tăng 1.544m²
Tại Biên bản hòa giải ngày 27/8/2014 ông Nguyễn Văn M cho biết: Qua xem xét hiện trạng thấy ông T1 có làm bờ rào lấn qua đất ông T, bà X. Ông T1 xác định đất của ông là do cụ Phạm Thị C1 cho (BL 10-20) (không nói đến việc được mẹ cho đất).
Từ nhận định trên đủ cơ sở xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 224, tờ bản đồ 05 (cũ) cho hộ gia đình ông T1 vào năm 1997 là cấp sai diện tích, cụ thể là cấp vượt quá diện tích cụ C1 cho ông T1 trong “Tờ giao quyền thừa kế” do cụ C1 lập ngày 09/11/1990, cấp chồng lấn lên diện tích đất mà cụ C1 chuyển nhượng cho ông T, bà X vào năm 1988. Điều này cũng phù hợp với nhận định của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; Tòa án nhân dân cấp cao tại Quyết định giám đốc thẩm số: 266/2019/DS-GĐT ngày 07/11/2019. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông T là có cơ sở chấp nhận toàn bộ, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
- Xét yêu cầu phản tố của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Phạm Văn T1: Ngày 16/8/1997, vợ chồng ông T có làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó kê khai diện tích đất 150m² số thửa 226, tờ bản đồ số 05 (cũ) xã P có nguồn gốc do “ông nội chồng để lại cho bà Nguyễn Thị N năm 1985, sau đó bà N để lại cho bà X”. Do phần đất ông T, bà X kê khai không có ai tranh chấp nên đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 24/11/1997. Ngày 17/9/2009, UBND xã P lập biên bản xác minh hiện trạng có sự chứng kiến của chủ sử dụng đất ông T xác định thửa đất 226 tờ bản đồ 12, có thửa mới số 18a và diện tích là 144m². Số diện tích chênh lệch của thửa 226, tờ bản đồ số 05 (cũ) so với bản đồ địa chính mới là 6m2, diện tích chênh lệch giảm do sai sót bản đồ cũ. Sau khi đoàn xác minh xem xét tứ cạnh của các hộ xung quanh thì các mốc ranh giới đều đúng theo hiện trạng với sự có mặt của ông T đã thống nhất theo diện tích đất mới, sử dụng đúng mục đích, ổn định, không tranh chấp. Ngày 13/11/2009, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã tiến hành thẩm tra hồ sơ địa chính và đến ngày 25/12/2009 có tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể cấp đổi cho ông T đối với diện tích 144m² thửa 64 tờ bản đồ 12 xã P theo bản đồ địa chính năm 2007. Ngày 04/02/2010, ông Nguyễn Văn T đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 144m² thửa 64 tờ bản đồ 12 xã P. Xét thấy, việc cấp giấy này đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003, quá trình ông T, bà X quản lý, sử dụng đất thì vợ chồng ông T1, bà T2 không có tranh chấp, không có khiếu nại gì nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Từ nhận định trên: Xét kháng cáo của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận, còn kháng cáo của bị đơn không có căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp pháp luật, cần sửa một phần bản án sơ thẩm về phần này.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Nhơn Trạch đề nghị hủy án do vi phạm thẩm quyền là không cần thiết nên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai thay đổi kháng nghị từ hủy án thành sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn;
2/ Chấp nhận việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai thay đổi kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch (từ hủy án thành sửa một phần án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn).
Áp dụng khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Sửa một phần bản án sơ thẩm số 13/2022/DS-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Bổ sung quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
- Về thủ tục kháng cáo:
Kháng cáo của nguyên đơn được thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về kháng nghị: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong thời hạn luật định nên được xem xét. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm về đường lối giải quyết vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị là phù hợp nên được chấp nhận xem xét.
- Về quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng:
Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” nhưng thiếu quan hệ “Tranh chấp tiền bồi thường quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất”, Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung cho phù hợp; xác định những người tham gia tố tụng đúng, đầy đủ.
[2] Về các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm:
Qua nhiều lần, nhiều cấp xét xử đều xác định phần diện tích đất tranh chấp giữa các bên thuộc thửa 224 tờ bản đồ số 05 (cũ) có diện tích 240m² nay là thửa số 18 tờ bản đồ số 12 (mới) xã P. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các đương sự có yêu cầu đo đạc lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ đã ban hành Trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính và sau đó là Phiếu chỉnh lý đo đạc thửa đất số 4854/2025 ngày 17-6-2025 theo hợp đồng đã ký, nguyên đơn xác định phần diện tích đất thửa 18 qua đo đạc thực tế, cập nhật bản đồ địa chính diện tích chỉ còn 221,4m² là diện tích đất tranh chấp và đề nghị Tòa án căn cứ vào trích đo và Phiếu chỉnh lý này để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Bị đơn không có ý kiến về Trích đo bản đồ địa chính và Phiếu chỉnh lý đo đạc thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cung cấp.
[3] Về nội dung tranh chấp và kháng cáo:
3.1. Về nguồn gốc đất:
Thửa đất tranh chấp thuộc thửa 224 tờ bản đồ số 05 cũ có diện tích 256,3m² các đương sự đều thừa nhận có nguồn gốc là của cụ Phạm Thị C1 khai hoang trước năm 1975 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 1988, cụ C1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà X diện tích 500m²; các bên có lập “Giấy chuyển nhượng đất” vào ngày 27-01-1988, có xác nhận của Ban lãnh đạo ấp và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P và ngày 28-01-1988; vợ chồng ông T, bà X nhận đất và quản lý từ năm 1988 đến khi các bên phát sinh tranh chấp vào năm 2014.
Mặc dù, việc chuyển nhượng đất giữa cụ C1 và vợ chồng ông T, bà X không xác định được thửa đất, vị trí nhưng giao dịch này được xác lập trước khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực; nội dung trong giấy chuyển nhượng đất có xác định diện tích, tứ cận cụ thể: Phía nam giáp mặt đường Lý Thái T6; các phía bắc, đông, tây còn lại giáp đất của ông T1 và được Ban ấp, UBND xã P xác nhận. Tại biên bản hòa giải ngày 27-8-2014, UBND xã P kết luận: “...Cụ C1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T 500m², ủy quyền thừa kế cho ông T1 1.500m²; căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T1 thì không đúng với thực tế và có phần sai sót, lấn qua đất của ông T, bà X...”. Như vậy, căn cứ tiết b2 điểm b tiểu mục 2.2. mục 2 Nghị quyết số 02/2004 ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hợp đồng giữa cụ C1 và ông T, bà X có hiệu lực và có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là của ông T, bà X nhận chuyển nhượng của cụ C1 trước khi cụ C1 ủy quyền thừa kế lại cho ông T1.
Ông Phạm Văn T1 thừa nhận tại Biên bản hòa giải ngày 27-8-2014 tại UBND xã P: “Đất của tôi do bà cô (cụ C1) để lại bao nhiêu thì tôi sử dụng bấy nhiêu, tôi sử dụng đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phía ông T, bà X mua bao nhiêu thì sử dụng bấy nhiêu, tôi không có lấn chiếm”. Đất ông T1 được thừa kế năm 1990 (sau thời điểm cụ C1 chuyển nhượng cho ông T), đến năm 1997 mới được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận thửa 224 diện tích 3044m² (nay là các thửa 18, 64, 25, 37, 38, 39, 24); trong đó, ông T1 kê khai tăng diện tích thêm 1.544m² so với đất được thừa kế từ cụ C1 và được cấp; tuy nhiên, hồ sơ đăng ký kê khai của ông T1 và tờ trình cấp giấy của UBND huyện N vào năm 1997 thể hiện việc đăng ký kê khai đồng loạt không thực hiện việc kiểm tra thực địa, ký giáp ranh. Thực tế ông T1 cũng không sử dụng đất tranh chấp thể hiện thông qua lời khai và tài liệu thể hiện khi Nhà nước thu hồi một phần đất thửa 18 tờ bản đồ số 12 để nâng cấp đường giao thông 769, nội dung thông báo thu hồi xác định: “Điều 1. Thu hồi 27.7m² đất của ông Phạm Văn T1 (người được cấp giấy CN.DSDĐ, ông Nguyễn Văn T (người sử dụng đất) thường trú tại: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai ...”. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 đối với phần diện tích đất tranh chấp là không đúng thực tế sử dụng. Những nội dung trên cũng phù hợp với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và quyết định Giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những căn cứ nêu trên, xác định việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng về đường lối giải quyết nội dung vụ án. Kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
3.2. Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và quyền sử dụng đất thửa 18 tờ bản đồ số 12 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông Phạm Văn T1; do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số K458968 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Phạm Văn T1 ngày 24/11/1997 đối với thửa 224 tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ) nay là thửa 18, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
3.3. Về yêu cầu phản tố của bị đơn:
Như đã phân tích về nguồn gốc đất và quá trình ông T, bà X quản lý, sử dụng đất vợ chồng ông T1, bà T2 không có tranh chấp, không có khiếu nại gì nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 đồng thời không chấp nhận yêu cầu hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử số BA 033032 cấp ngày 04/02/2010 đối với diện tích 31,3 m² cắt thửa 64, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P do ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Không chấp nhận yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 31,3 m² cho bà T2 và các con quản lý, sử dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
3.4. Kết luận:
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
4. Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai thay đổi nội dung kháng nghị đề nghị sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về đường lối giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị X;
Chấp nhận kháng nghị số: 40/QĐ-VKS-DS ngày 05-7-2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch;
Không chấp nhận kháng của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn T1 là bà Huỳnh Thị T2, anh Phạm Tấn T3, chị Phạm Thị Kim T4, chị Phạm Thị Phương T5.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2022/DS-ST ngày 24-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Căn cứ các Điều 50, Điều 135; Điều 136 Luật Đất đai 2003; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn T1 là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 (hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn T1) trả lại diện tích 31.3 m² thuộc thửa 64 tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị X về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Phạm Văn T1.
Công nhận quyền sử dụng diện tích đất 221,4m² thửa đất số 18 tờ bản đồ số 12 (mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (trước đây là thửa 224 tờ bản đồ số 05 cũ, xã P) cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X; được giới hạn bởi các mốc 12, 13, 14, B, C, D, E, 12 theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất số 4854/2025 ngày 17-6-2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
3. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số K458968 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Phạm Văn T1 ngày 24/11/1997 đối với thửa 224 tờ bản đồ 05 (bản đồ địa chính cũ) nay là thửa 18, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai”.
Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký kê khai và thực hiện các nghĩa vụ về tài chính đối với Nhà nước. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai có trách nhiệm hủy một phần giấy chứng nhận đã cấp cho ông Phạm Văn T1 cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà X phù hợp với nội dung của Bản án phúc thẩm đã tuyên.
4. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Phạm Văn T1 là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 (hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn T1) đối với nguyên đơn về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường số tiền 55.808.000 đồng; công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 31,3 m² thuộc thửa 64, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
5. Về chi phí tố tụng:
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn T1 phải chịu chi phí tố tụng là 35.679.012 đồng (ba mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi chín nghìn, không trăm mười hai đồng). Do ông T, bà X đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 phải hoàn trả lại cho ông T, bà X số tiền trên.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 còn phải chịu chi phí tố tụng là 6.997.459 đồng (sáu triệu, chín trăm chín mươi bảy nghìn, bốn trăm năm mươi chín đồng) (đã nộp xong).
6. Về án phí:
6.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông T, bà X thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hoàn trả cho ông T, bà X số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 2.500.000 đồng (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 003286 ngày 27/11/2014; 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 001724 và số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 001730 ngày 08/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm tổng cộng là 3.090.400 đồng (ba triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm đồng). Khấu trừ các số tiền tạm ứng án phí ông T1 đã nộp là 1.895.200 đồng (một triệu, tám trăm chín mươi lăm nghìn, hai trăm đồng) theo Biên lai thu số 002200 ngày 17/5/2016 và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 001735 ngày 12/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 còn phải nộp tiếp số tiền 895.000 đồng (tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.
6.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008145 ngày 14-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. Bà T2, anh T3, chị T4, chị T5 đã nộp đủ.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 239/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp tiền bồi thường đất bị thu hồi
- Số bản án: 239/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp tiền bồi thường đất bị thu hồi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo
