Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/HS-ST

Ngày: 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Duy Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/2024/TLST-HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2024/QĐXXST-HS ngày 13/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1995, tại Lạng Sơn; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT: Khu B, TT B, huyện B, Lạng Sơn; Chỗ ở: thôn D, xã P, huyện T, Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn C (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Kim D, S năm 1976; Bị cáo là con duy nhất; Bị cáo có 01 con sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

D1 chỉ bản số 391 do Công an huyện T lập ngày 07/06/2024

Bị cáo bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trần Thúy H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996, tại Thái Nguyên; Giới tính: Nữ; HKTT: xóm C, xã N, huyện Đ, Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Trần Văn T, S năm 1973; Họ tên mẹ: Dương Thị S1, Sinh năm 1970; Gia đình có 03 con, bị cáo là con thứ ba. Họ tên chồng: Lâm Văn T1, Sinh năm 1997; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

D1 chỉ bản số 392 do Công an huyện T lập ngày 07/06/2024

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị L thuê nhà trọ ở thôn D, P, T, Bắc Ninh. Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 30/5/2024, khi L đang ở nhà trọ thì có người không quen biết gọi điện thoại từ tài khoản zalo “Công Lý” đến tài khoản zalo của L rủ L cùng 02 nhân viên nữ đi sang xã Đ, huyện T, Hà Nội sử dụng ma túy, người này nhờ L mua hộ 02 chỉ ma túy “ke” và hẹn khi gặp nhau sẽ trả cho L 6.000.000 đồng thì L đồng ý. Sau đó L gọi điện thoại cho Trần Thúy H cùng Lạc Thị V (SN: 1995, HKTT: thôn Đ, xã H, huyện H, Lạng Sơn) bảo đi sang phòng trọ của L để cùng đi đến xã Đ, huyện T, Hà Nội sử dụng ma túy cùng khách thì H, V đồng ý. Khoảng 10 phút sau thì H, V cùng đến phòng trọ của L. Tại đây H biết L được khách nhờ mua hộ ma túy nhưng không có tiền và muốn vay tiền của H nên H đã dùng tài khoản số 0341006971759 của H tại ngân hàng V1 và chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng đến tài khoản số [...] của L tại ngân hàng V1 để cho L vay 3.000.000 đồng mua ma túy. Sau khi nhận được tiền L dùng điện thoại liên lạc với một người đàn ông hỏi mua 02 chỉ ma túy “ke”, sau khoảng 30 phút có 01 nam thanh niên đi xe ô tô đến chỗ L và giao cho L 02 túi ma túy “ke”. Khi nhận được ma túy, L bảo H và V lên xe taxi và cùng đi đến khu vực xã Đ, huyện T, Hà Nội. Đến nơi, L gọi cho người đàn ông có tài khoản zalo “Công Lý” thì người này bảo L đi bộ vào ngõ để cùng sử dụng ma túy.

Hồi 03 giờ 00 ngày 30/5/2024, tổ công tác Công an xã Đ, Công an Huyện T, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực nghĩa trang T4, Đ, T, Hà Nội, phát hiện Nguyễn Thị L, Trần Thúy H và Lạc Thị V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay trái của L có 01 gói nilon bên trong có 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, L khai nhận tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon là ma túy “ke”, L mang đi bán kiếm lời nên Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật đồng thời đưa L, H và V cùng tang vật về trụ sở Công an xã Đ để làm việc.

Kết quả xét nghiệm ma túy xác định: Nguyễn Thị L âm tính với ma túy; Trần Thúy H âm tính với ma túy; Lạc Thị V dương tính với ma túy loại MDMA.

Ngày 30/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon thu giữ của Nguyễn Thị L.

Tại Bản Kết luận giám định số 4044A/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng: 1,774 gam.

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,097 gam Ketamine trong tổng số 1,774 gam Ketamine để làm giám định, hoàn lại cho Cơ quan điều tra 1,677 gam Ketamine.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L, Trần Thúy H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của L và H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được. Ngoài ra, Nguyễn Thị L còn khai L sử dụng tài khoản zalo “My ciu” để liên lạc với tài khoản zalo “Tùng” của Nguyễn Thanh T2 (SN: 1993, HKTT: TT T, huyện G, Hà Nội) nhờ mua hộ 02 chỉ ma túy “ke”. T2 đồng ý mua hộ với giá 3.000.000 đồng, L dùng tài khoản ngân hàng của L chuyển 3.000.000 đồng đến số tài khoản 3040631993 tên CHU THANH TUNG tại ngân hàng T5. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, T2 khai không mua hộ, không bán ma túy cho L, việc L chuyển tiền cho T2 là để chi tiêu cá nhân do L và T2 có quan hệ tình cảm và thỉnh thoảng chuyển tiền cho nhau. Kết quả đối chất L và T2 giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai duy nhất của L không có tài liệu nào khác chứng minh T2 mua hộ hoặc bán ma túy trái phép cho L, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến nội dung này để tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với người đàn ông sử dụng tài khoản zalo “Công Lý”, L khai không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng, Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi Công ty cổ phần V2 đề nghị cung cấp thông tin nhưng Công ty Cổ phần V2 cho biết bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin, không thể hỗ trợ cung cấp thông tin nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với người đàn ông đã giao ma túy cho Nguyễn Thị L, L khai không quen biết, không nhìn rõ mặt, không nhìn rõ biển số xe ô tô nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với Lạc Thị V, do V không biết và không liên quan đến việc L, H mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý. Với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Lạc Thị V đã bị Công an huyện T xử lý hành chính bằng Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 256 ngày 25/10/2024.

Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, số máy: MGCJ3LL/A, số seri: G6TFG42MOD42 có gắn sim số 09281590695, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Lạc Thị V, không liên quan đến hành vi phạm tội của L và H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trả lại điện thoại trên cho Lạc Thị V, V đã nhận lại tài sản và không có ý kiến khác.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có 1,677 gam Ketamine (còn lại sau giám định), 01 điện thoại Iphone 11 màu tím, số máy MWLX2KH/A, số seri: C6KZJE5DN739 có gắn sim số 0862501995 thu giữ của Nguyễn Thị L, 01 điện thoại Iphone 11 promax, số máy MWFC2LL/A, số seri: FCJD75VXN70F thu giữ của Trần Thúy H là tang vật của vụ án cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 236/CT-VKSTT ngày 05/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Thị L và Trần Thúy H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị L, Trần Thúy H theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong Cáo trạng.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ: 30 đến 32 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Thúy H mức án từ: 26 đến 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.

Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;

- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 11 màu tím, số máy MWLX2KH/A, số seri: C6KZJE5DN739 có gắn sim số 0862501995 thu giữ của Nguyễn Thị L, 01 điện thoại Iphone 11 promax, số máy MWFC2LL/A, số seri: FCJD75VXN70F thu giữ của Trần Thúy H.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 03 giờ 00 ngày 30/5/2024, tại khu vực Thôn B, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội, khi Nguyễn Thị L đang cất giữ trái phép 1,774 gam Ketamine để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã Đ, huyện T, Hà Nội bắt quả tang, thu giữ tang vật. Trần Thúy H biết L cần 3.000.000 đồng để mua ma túy bán kiếm lời nên đã giúp sức chuyển khoản cho Nguyễn Thị L vay số tiền này.

Hành vi của Nguyễn Thị L và Trần Thúy H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Vai trò của các bị cáo: : Trong vụ án này có tính chất đồng phạm nên cần phân tích, đánh giá mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để có cơ sở lượng hình cho phù hợp. Bị cáo L là người trực tiếp liên hệ để mua, bán ma túy. H cho L vay tiền để L mua ma túy. Do đó, L có vai trò cao hơn H và phải chịu mức hình phạt cao hơn.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

4.1. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép, người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;
  • Đối với 01 điện thoại Iphone 11 màu tím, số máy MWLX2KH/A, số seri: C6KZJE5DN739 có gắn sim số 0862501995 thu giữ của Nguyễn Thị L, 01 điện thoại Iphone 11 promax, số máy MWFC2LL/A, số seri: FCJD75VXN70F thu giữ của Trần Thúy H được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công.
  • Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, số máy: MGCJ3LL/A, số seri: G6TFG42MOD42 có gắn sim số 09281590695 của Lạc Thị V, không liên quan đến hành vi phạm tội của L và H nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho Lạc Thị V, V đã nhận lại tài sản và không có ý kiến khác.

[7] Các vấn đề khác: Lạc Thị V không biết và không liên quan đến việc L, H mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý. Với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Lạc Thị V đã bị Công an huyện T xử lý hành chính bằng Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 256 ngày 25/10/2024 là đúng quy định của pháp luật.

Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Án phí và quyền kháng cáo:

Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L, Trần Thúy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Thúy H 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.

2. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niên phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thị L, Trần Thúy H Nguyền Văn H1 giám định viên, Trương Xuân T3 Cán bộ Công an xã Đ bên trong có chứa ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định có khối lượng là 1,677 gam.
  • Tịch thu sung công 01 (một) chiếc điện thoại có hình quả táo màu tím có gắn sim số 0862501995 mặt trước điện thoại bị sước viền, mặt sau điện thoại bị vỡ đã qua sử dụng không lên nguồn điện nên không kiểm tra được chất lượng bên trong và loại máy của điện thoại tạm giữ của Nguyễn Thị L.
  • Tịch thu sung công 01 (một) chiếc điện thoại có hình quả táo màu vàng đã qua sử dụng không lên nguồn điện nên không kiểm tra được chất lượng bên trong và loại máy của điện thoại tạm giữ của Trần Thúy H.

Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/11/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.

4. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - CA huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




NGUYỄN VĂN THẮNG

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




NGUYỄN VĂN THẮNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 239/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger