TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 239/2024/HS-ST Ngày: 31-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Châu Loan
Ông Nguyễn Hồng Đức
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 231/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Vũ Công T, sinh ngày 04 tháng 11 năm 1990 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: số I đường N, phường V (địa chỉ cũ là phường V), thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số H đường N, phường V (địa chỉ cũ là phường V), thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công T1 và bà Nguyễn Thị Thúy N; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 03-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Đặng Anh D, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1988 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: số A đường N, phường V (địa chỉ cũ là phường V), thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số C đường H, phường V (địa chỉ cũ là phường V), thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Mạnh C và bà Nguyễn Thị Kim O; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 03-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Trần Trung T2, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1986 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số A đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N1 và bà Nguyễn Thị N2; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị Ú và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 3-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Ông Trần Khắc N3, ông Đ Tuấn A và ông Bùi Thanh X. Không triệu tập đến phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 23-4-2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Tổ công tác Công an phường L, thành phố N tiến hành kiểm tra nhà Trần Trung T2 ở số A đường P, phường L, thành phố N phát hiện Trần Trung T2, Vũ Công T và Đặng Anh D có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. T2 đứng trước cửa nhà thả từ tay trái xuống đất 01 gói giấy ăn màu trắng, bên trong có 01 túi nilong màu trắng kích thước (1,8x2)cm, trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (T2 khai là ma túy đá mua về để cùng T và D sử dụng chung). Lúc này, trong nhà T2 có anh Trần Khắc N3, sinh năm 1990, trú tại 1 P, phường T, thành phố N và anh Đầu Anh T3, sinh năm 1988, trú tại 2 P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định là bạn T2 đến chơi. Tổ công tác thu giữ, niêm phong vật chúng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Trung T2, Vũ Công T và Đặng Anh D. Ngoài ra, tạm giữ của T 01 điện thoại màu vàng, mặt sau có chữ MI (ký hiệu A1), tạm giữ của T2 01 điện thoại di động màu vàng đen (ký hiệu A2), D 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Samsung (ký hiệu A3) và 01 xe mô tô nhãn hiệu SHLX, biển kiểm soát 18H2 – 5542, đều đã cũ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Trung T2 tại số nhà A đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định không thu giữ gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành thu mẫu nước tiểu của Trần Trung T2, Vũ Công T và Đặng Anh D trưng cầu giám định, lần lượt ký hiệu N3, N4, N5 (BL: 37-39)
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N đã tiến hành trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của các bị cáo. Tại Bản kết luận giám định số 821/KL-KTHS ngày 30-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi Nilong màu trắng kích thước (1,8x2) cm (túi được gói trong 01 gói giấy ăn màu trắng), được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,364 gam (không phẩy ba trăm sáu mươi tư gam).
Bản kết luận giám định số 822/KL-KTHS ngày 30-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Đều có tìm thấy thành phần chất Methamphetamine trong các mẫu N3, N4, N5.
Tại Cơ quan điều tra Trần Trung T2, Vũ Công T và Đặng Anh D khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23-4-2024, T rủ D góp tiền đưa cho T2 mua ma túy đá sử dụng chung, D đồng ý. T dùng điện thoại nhắn tin qua mạng Zalo cho T2: “Anh có nhà không lên anh đi lấy 300 đá anh em mình ngồi tí, T2 nhắn lại “ok” (đồng ý). Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, D điều khiển xe máy biển kiểm soát 18H2-5542 chở T đến nhà T2, D chuyển vào tài khoản của T2 350.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng D và T góp tiền mua ma túy, còn 50.000 đồng D cho T2 mua thuốc lá và nước uống). T2 nhắn tin qua Z cho một người tên N1 (không rõ lai lịch) liên hệ mua ma túy đá và xin số tài khoản, sau đó T2 chuyển tiền vào tài khoản của N1 300.000 đồng, N1 hẹn T2 đến khu vực ngõ G đường Đ, phường C, thành phố N lấy ma túy. T2 đi xe máy đến điểm hẹn lấy ma túy mang về nhà mục đích cùng T, D sử dụng chung nhưng chưa kịp sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt giữ. Anh Trần Khắc N3 và anh Đ Tuấn A có mặt ở nhà T2 nhưng không biết, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N xác định số điện thoại 0912.698.xxx và số tài khoản 109871531823 Ngân hàng V mà T2 dùng để liên hệ và chuyển tiền mua ma túy đều mang tên Trần Trung T2; số điện thoại 0962.829.xxx của người bán ma túy cho T2 chưa xác định được thông tin chủ thuê bao; số tài khoản nhận tiền bán ma túy 6625011994 của Ngân hàng T5 mang tên Vũ Đức N4.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu giám định, phục hồi dữ liệu điện tử trong 03 chiếc điện thoại thu giữ. Bản kết luận giám định số 1107/KL-KTHS ngày 03-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phục hồi, trích xuất được dữ liệu trong 01 điện thoại di động (Ký hiệu A1) thu giữ của Vũ Công T; Phục hồi, trích xuất được dữ liệu: lịch sử cuộc gọi, tin nhắn và tin nhắn trong ứng dụng Zalo trong 01 điện thoại di động thu giữ của Đặng Anh D gửi giám định (Ký hiệu A2); Phục hồi, trích xuất được dữ liệu: lịch sử cuộc gọi, tin nhắn và tin nhắn trong ứng dụng Zalo trong 01 điện thoại thu giữ của Trần Trung T2 (Ký hiệu A3).
Chiếc xe máy biển kiểm soát 18H2-5542 là tài sản của chị Khổng Thị Thu H, sinh năm 1990, trú tại 4 V, phường T, thành phố N (nay là phường N, thành phố N), chị H không biết D mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho chị H.
Số ma túy thu giữ sau giám định và 03 chiếc điện thoại di động của Trần Trung T2, Vũ Công T và Đặng Anh D được chuyển theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số 235/CT-VKS-TPNĐ ngày 10-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 tại phiên tòa thể hiện hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với ba bị cáo. Riêng bị cáo T áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Vũ Công T từ 27 tháng đến 30 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Đặng Anh D từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Trần Trung T2 từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 821/KL-KTHS. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo.
Bị cáo Vũ Công T, bị cáo Đặng Anh D và bị cáo Trần Trung T2 nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23-4-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 23-4-2024; Bản kết luận giám định số 821/KL-KTHS ngày 30-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 23-4-2024, tại địa chỉ số A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,364 gam (không phẩy ba trăm sáu mươi tư gam) Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Methamphetamine các bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,364 gam (không phẩy ba trăm sáu mươi tư gam). Như vậy, các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Các bị cáo cùng nhau thực hiện một tội phạm nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.
Xét vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo Vũ Công T là người khởi xướng, chủ động rủ bị cáo D góp tiền và nhắn tin bảo bị cáo T2 đi mua ma tuý về sử dụng do vậy, bị cáo Vũ Ngọc T4 là giữ vai trò thứ nhất; bị cáo Đặng Anh D là người góp tiền chung với bị cáo Vũ Công T và chuyển tiền cho bị cáo Trần Trung T2 mua ma tuý giữ vai trò thứ hai; bị cáo Trần Trung T2 là người nhận tiền do bị cáo D chuyển khoản, trực tiếp liên hệ mua ma tuý để cả ba sử dụng chung nên giữ vai trò thứ 3 trong vụ án.
- Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có thời gian tham gia lực lượng Cảnh sát cơ động và được tặng Bằng khen nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma tuý và hậu quả pháp lý của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 là vật Nhà nước cấm lưu hành và mẫu nước tiểu thu giữ không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 03 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, do các bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đã bán ma tuý cho Trần Trung T2, theo bị cáo T2 khai là người tên N4, nhà ở khu vực ngõ G Điện Biên, phường C, thành phố N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã xác minh và ra quyết định truy tìm người, quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với Vũ Đức N4, sinh năm 1994; nơi thường trú: B Điện Biên, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Hiện nay N4 không có mặt ở địa phương, đi đâu, làm gì không rõ nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục điều tra khi có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Đối với anh Trần Khắc N3 và anh Đ Tuấn A có mặt ở nhà bị cáo Trần Trung T2 nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp với pháp luật.
Đối với kết luận giám định có chất ma tuý trong nước tiểu của Vũ Công T, Trần Trung T2 và Đặng Anh D do các bị cáo đều khai nhận trước đó có sử dụng ma tuý dạng đá nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe máy màu đen ghi, nhãn hiệu SHLX@ Biển kiểm soát: 18H2-5542, số máy: VHLFM152FMHV411879; số khung: RMNWCHRMN7H001879 đã cũ. Xét thấy không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra đã làm thủ tục trả lại cho chị Khổng Thị Thu H, sinh năm 1990; nơi cư trú: số D V, phường T (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định là đúng quy định pháp luật.
- Về án phí:
Các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 47, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vũ Công T.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đặng Anh D và Trần Trung T2.
- Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và Trần Trung T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Công T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24-4-2024.
- Xử phạt bị cáo Đặng Anh D 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24-4-2024.
- Xử phạt bị cáo Trần Trung T2 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24-4-2024.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 821/KL-KTHS. Tịch thu tiêu huỷ mẫu nước tiểu có trong phong bì niêm phong số 822/KL-KTHS.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI vỏ màu vàng đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung vỏ màu đen đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng đen đã cũ.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định)
- Án phí hình sự sơ thẩm:
- Bị cáo Vũ Công T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
- Bị cáo Đặng Anh D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
- Bị cáo Trần Trung T2 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo Vũ Công T, bị cáo Đặng Anh D và bị cáo Trần Trung T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Vũ Công T, Đặng Anh D và bị cáo Trần Trung T2 có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Kim Huế |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 239/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án hình sự đối với các bị cáo Tiến, Dũng, Thành
